CHƯƠNG I: CHỨNG KHOÁN VÀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1. Khái niệm: Chứng khoán được hiểu là những chứng thư xác nhận quyền sở hữu tài chính có thể được mua bán, trao đổi, chuyển nhượng trên thị trường chứng khoán. Ở một cách tiếp cận khác, có thể hiểu chứng khoán là các công cụ thể hiện quyền sở hữu tài sản ở một công ty (cổ phiếu), quyền chủ nợ đối với một công ty, chính phủ hay chính quyền địa phương (trái phiếu) và các công cụ khác có thể chuyển đổi phái sinh trên cơ sở những công cụ đã có (công cụ chuyển đổi, công cụ phái sinh). Theo quy định của pháp luật Việt Nam tại Nghị định 144/2003/NĐ-CP ngày 28 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ thì " Chứng khoán là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành." Dù ở cách tiếp cận nào khi nói đến chứng khoán người ta thường hiểu chứng khoán với tư cách là một loại hàng hoá "đặc biệt" gắn liền với thị trường chứng khoán.
Sự ra đời, phát triển của chứng khoán luôn gắn liên với sự ra đời, phát triển của thị trường chứng khoán và ngược lại. Đặc trưng của chứng khoán Chứng khoán có một số đặc trưng cơ bản sau: 1.1 Chứng khoán có giá trị nhất định Về bản chất pháp lý, chứng khoán xác nhận quyền sở hữu hoặc quyền chủ nợ nên có những giá trị nhất định. Giá trị của chứng khoán sẽ được đem lại cho chủ sở hữu chứng khoán khi họ bán các chứng khoán hoặc khi nhận được các khoản thanh toán lúc đáo hạn đối với các chứng khoán nợ. Mặt khác, do chứng khoán có thể được sử dụng như những tài sản cầm cố bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong rất nhiều giao dịch cho nên giá trị của chứng khoán Luda van thạc sự tuật hoe Frang 7 Công ty ching khoau theo pháp luật (Giệt (dưa thường được thừa nhận.
Nhìn chung, giá trị của chứng khoán được thể hiện qua những quyền về tiền tệ và tài sản. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, có thể có những chứng khoán không còn giá trị như cổ phiếu của một số công ty phát hành đã bị phá sản (không phải tất cả các công ty phát hành cổ phiếu bị phá sản thì cổ phiếu đều không còn giá trị). Trong trường hợp này những chứng khoán đó chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian ngắn và sé sớm bị loại bỏ khỏi thị trường.2 Chứng khoán gắn với những kha năng thu lợi Sở hữu chứng khoán cũng chính là sở hữu lợi nhuận mà chứng khoán đó đem lại. Bất kỳ loại chứng khoán nào cũng chứa đựng những khả năng thu lợi nhất định.
Ở đây, lợi tức đem lại cho chủ sở hữu chứng khoán cũng khá đa dạng như cổ tức (đối với cổ phiếu), trái tức (đối với trái phiếu). và đặc biệt là sự chênh lệch giá. Mỗi loại chứng khoán có khả năng thu lợi khác nhau nhưng nhìn chung lợi tức của chứng khoán thường gồm hai phần : thu nhập và chênh lệch giá. Đây cũng chính là yếu tố mang lại kỳ vọng cho chủ sở hữu chứng khoán.3 Chứng khoán luôn hàm chứa rủi ro Đối nghịch với khả năng thu lợi, chứng khoán luôn hàm chứa rủi ro và thông thường có một số rủi ro đối với chứng khoán như sau: - Rui ro về vốn Rủi ro về vốn chính là khả năng không thu hồi được số vốn đầu tư mà chủ sở hữu chứng khoán đã bỏ ra do giá chứng khoán xuống thấp hơn thời điểm mua vào.
Nhìn chung, cổ phiếu có rủi ro về vốn cao hơn trái phiếu, trái phiếu doanh nghiệp có rủi ro về vốn cao hơn trái phiếu chính phủ. - Rui ro về lam phát La rủi ro khi lam phát làm cho đồng tiền mất giá và như vậy lợi tức thu được từ chứng khoán bị giảm giá trị. Trong trường hợp này trái phiếu có độ rủi ro về lạm phát cao hơn cổ phiếu do các công ty phát hành cổ phiếu thường chi Luda van thạc sự tuật hoe Frang 8 Công ty ching khoau theo pháp luật (Giệt (dưa trả cổ tức theo chu kỳ hàng năm hoặc ngắn hơn; ngược lại kỳ hạn trái phiếu khá dài thường từ 5 năm trở lên. - Rúi ro về lãi suất Đây là loại rủi ro xảy ra sự thay đổi lãi suất trên thị trường.
Sự thay đổi này tác động đến lợi tức mà chứng khoán đem lại bởi lãi suất chính là một yếu tố quan trọng mà chủ sở hữu chứng khoán đem ra so sánh với lợi tức thu được trước khi quyết định bỏ tiền ra mua vào một loại chứng khoán nào. Nhìn chung, chủ sở hữu chứng khoán thường không hài lòng khi lãi suất trên thị trường tăng. - Rui ro về pháp luật Được hiểu là khả năng các quy định pháp luật thay đổi theo hướng bất lợi, gây tổn thất cho chủ sở hữu chứng khoán ví dụ như quy định tăng thuế thu nhập đối với lợi tức từ chứng khoán của chủ sở hữu chứng khoán - Rui ro về tính thanh khoản La rủi ro cũng thường gặp đối với chủ sở hữu chứng khoán khi chứng khoán mà họ đang sở hữu có lượng cung hoặc lượng cầu trên thị trường rất thấp gây khó khăn cho nhu cầu muốn mua hoặc bán của chủ sở hữu chứng khoán - Rui ro về thị trường Rủi ro về thị trường chính là rủi ro khi thị trường xảy ra những biến động lớn ảnh hưởng đến toàn bộ thị trường làm giảm giá của tất cả các loại chứng khoán.4 Chứng khoán có tính thanh khoản Một loại hàng hoá có tính thanh khoản được hiểu là loại hàng hoá đó có thể được mua bán tương đối dễ dàng trên thị trường. Chứng khoán chính là loại hàng hoá như vậy.
Sau khi phát hành, chứng khoán có thể được mua đi bán lại nhiều lần trên thị trường chứng khoán (thị trường chính thức và thị trường OTC). Nhìn chung, chủ sở hữu chứng khoán có thể dễ dàng chuyển từ chứng khoán đang sở hữu thành tiền mặt. Mặc dù mỗi loại chứng khoán có Luda van thạc sự luật hoe Frang 9 Công ty ching khoau theo pháp luật (Giệt (dưa tính thanh khoản khác nhau nhưng nhìn chung tất cả các loại chứng khoán đều có tính thanh khoản. Cũng có một số chứng khoán mất tính thanh khoản trong một thời gian nhất định nhưng loại chứng khoán này sẽ nhanh chóng bị thị trường loại bỏ.
Phân loại chứng khoán Cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán, chứng khoán ngày càng phong phú, đa dạng. Tuỳ theo từng thời kỳ lịch sử và pháp luật của từng nước mà chứng khoán có thể được chia làm nhiều loại khác nhau. Tuy nhiên, người ta thường chia chứng khoán thành 4 nhóm chính là: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư và các công cụ phái sinh.1 Cổ phiếu Cổ phiếu là một loại chứng khoán được phát hành dưới dạng chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của người sở hữu cổ phiếu đối với tài sản hoặc vốn của một công ty cổ phần. Khi mua cổ phiếu, nhà đầu tư (cổ đông) sẽ trở thành chủ sở hữu đối với công ty với mức độ sở hữu tuỳ thuộc vào tỷ lệ cổ phần mà cổ đông đó nắm giữ.
Khi đã là chủ sở hữu, các cổ đông cùng nhau chia sẻ mọi thành quả cũng như tổn thất trong quá trình hoạt động của công ty. Trong trường hợp công ty phá sản, cổ đông chỉ nhận được những gì còn lại sau khi công ty đã thanh toán xong các nghĩa vụ khác (thuế, nợ ngân hàng, .) Cổ phiếu được chia thành một số loại như sau: * Căn cứ vào quyền lợi cổ đông, cổ phiếu được chia thành : - Cổ phiếu phổ thông: Đây là loại cổ phiếu điển hình nhất và nếu một công ty chỉ được phép phát hành một loại cổ phiếu, nó sẽ phát hành cổ phiếu phổ thông. - Cổ phiếu ưu đãi : Cổ phiếu ưu đãi dành cho cổ đông những ưu đãi so với cổ phiếu phổ thông, thường là những ưu đãi về cổ tức. * Căn cứ vào quyên tham gia bỏ phiếu biểu quyết trong các đại hội đồng cổ đông, cổ phiếu được chia thành: Luda van thạc sự tuật hoe Frang 10 Công ty ching khoau theo pháp luật (Giệt (dưa - Cổ phiếu đơn phiếu - Cổ phiếu đa phiếu - Cổ phiếu lưỡng phiếu * Căn cứ vào danh tính của cổ phiếu thì cổ phiếu được chia thành: - Cổ phiếu ghi danh - Cổ phiếu vô danh * Căn cứ vào việc huy động vốn điều lệ, cổ phiếu được chia thành: - Cổ phiếu thành lập công ty - Cổ phiếu bổ sung vốn điều lệ Ngoài ra cổ phiếu còn có thể được phân loại thành cổ phiếu thưởng, cổ phiếu quỹ.
trong đó cổ phiếu thưởng là loại cổ phiếu được phát hành bằng nguồn lợi nhuận để lại hoặc các nguồn vốn chủ sở hữu hợp pháp khác của công ty cổ phần để phát không cho các cổ đông hiện tại tương ứng với tỷ lệ cổ phần hiện có của họ trong công ty; cổ phiếu quỹ là loại cổ phiếu đã phát hành và được tổ chức phát hành mua lại trên thị trường chứng khoán.2 Trái phiếu Trái phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành (người vay vốn) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán (người cho vay) một khoản tiền xác định, thường là trong những khoảng thời gian cụ thể và phải hoàn trả khoản cho vay ban đầu khi nó đáo hạn. Ngày nay, trái phiếu là một loại chứng khoán vô cùng quan trọng trên thị trường chứng khoán, đặc biệt ở các nước có thị trường chứng khoán phát triển. Trái phiếu thường được chia thành các loại sau: * Căn cứ vào danh tính của trái phiếu thì trái phiếu được chia thành: - Trái phiếu ghi danh - Trái phiếu vô danh * Căn cứ vào chủ thể phát hành trái phiếu, trái phiếu được chia thành: Luda van thạc sự tuật hoe Frang 717 Công ty ching khoau theo pháp luật (Giệt (dưa - Trái phiếu chính phủ: Là những trái phiếu do chính phủ các nước phát hành - Trái phiếu công ty: Là những trái phiếu do các công ty phát hành để vay vốn dài hạn và được chia thành một số loại sau : + Trái phiếu có bảo đảm + Trái phiếu không bảo đảm + Trái phiếu có lãi suất thả nổi + Trái phiếu có thể mua lại + Trái phiếu có thể bán lại + Trái phiếu có thể chuyển đổi 1.