CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của công ty cổ phần 1. Khái niệm công ty cổ phần Trong nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế tham gia, CTCP sẽ làm cho tốc độ phát triển kinh tế xã hội nhanh hơn và đời sống nhân dân được nâng cao. Vì thế, khái niệm về CTCP ngày càng được tiếp cận nhiều hơn trong bối cảnh kinh tế thị trường phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ.
Luật pháp của các quốc gia trên thế giới cũng như tại Việt Nam quy định và cho phép thành lập CTCP với những quy định khác nhau như về vốn, cơ cấu tổ chức, địa vị pháp lý… Trong từ điển giải thích thuật ngữ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội đã đưa ra định nghĩa như sau: “Công ty trong đó vốn điều lệ được chia thành những phần nhỏ nhất và bằng nhau gọi là cổ phần. Người sở hữu cổ phần của công ty được gọi là cổ đông. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm trước nghĩa vụ của công ty đến hết giá trị cổ phần mà họ nắm giữ. Công ty có quyền phát hành chứng khoán để công khai huy động vốn”1.
Khái niệm này đã nêu ra được các đặc điểm cơ bản của CTCP bao gồm cấu trúc vốn, trách nhiệm của cổ đông và khả năng huy đông vốn thông qua phát hành chứng khoán. Việc chia vốn điều lệ thành những phần nhỏ và bằng nhau gọi là cổ phần giúp công ty cổ phần có khả năng thu hút vốn linh hoạt từ nhiều cổ đông. Điều này không chỉ phù hợp với các quy định hiện hành mà còn thể hiện tính chất "mở" của công ty cổ phần, khi quyền sở hữu được chia đều và dễ dàng chuyển nhượng giữa các nhà đầu tư. Việc quy định cổ đông chỉ chịu trách nhiệm đến hết giá trị cổ phần họ nắm giữ (trách nhiệm hữu hạn) là một yếu tố quan trọng, giúp thu hút các nhà đầu tư vì nó giới hạn rủi ro tài chính của họ.
Trách 1 Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân năm 2000, tr. 9 nhiệm hữu hạn cũng khuyến khích sự tham gia của các nhà đầu tư nhỏ lẻ, vì họ có thể đầu tư mà không lo ngại về các khoản nợ vượt quá phần vốn đã góp. Bên cạnh đó, quyền phát hành chứng khoán là một lợi thế lớn của công ty cổ phần so với các loại hình doanh nghiệp khác. Nhờ khả năng này, công ty có thể huy động được lượng vốn lớn từ công chúng, phục vụ cho các hoạt động mở rộng kinh doanh và phát triển.
Đây cũng là cơ sở để các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán, từ đó tăng tính thanh khoản cho cổ phiếu và dễ dàng tiếp cận các nhà đầu tư tiềm năng. Trên cơ sở tiếp thu mô hình CTCP ở một số quốc gia trên thế giới, pháp luật Việt Nam không đưa ra định nghĩa mang tính chất khái quát mà chỉ quy định các dấu hiệu nhận biết. Theo Luật Công ty 1990, CTCP là “doanh nghiệp trong đó các thành viên cùng góp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp và chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn của mình góp vào công ty”2. Quy định này tiếp tục được hoàn thiện trong LDN 1999, LDN 2005, cụ thể là LDN 2005 đã đưa ra khái niệm về CTCP như sau: “CTCP là doanh nghiệp, trong đó: Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của Luật này.
Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn”3. LDN 2014 đưa 2 Điều 2 Luật công ty năm 1990. 10 ra các dấu hiệu cơ bản của CTCP: “Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; người sở hữu cổ phần là các cổ đông, cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; Các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; CTCP có quyền phát hành cổ phần để huy động vốn”4.
Có thể thấy qua mỗi giai đoạn, khái niệm về CTCP ngày càng hoàn thiện và được thể hiện rõ ràng qua các dấu hiệu nhận biết đặc trưng của mô hình doanh nghiệp này. So với quy định của pháp luật về CTCP của các LDN ra đời trước đó, LDN năm 2020 đã đưa ra khái niệm cụ thể về CTCP. Khái niệm này phản ánh được tính chất đa sở hữu của loại hình doanh nghiệp này, trong đó quyền sở hữu không chỉ thuộc về một cá nhân hoặc một nhóm nhỏ mà mở rộng ra nhiều cổ đông. Điều này không chỉ giúp công ty dễ dàng huy động vốn mà còn tạo điều kiện để thu hút các nhà đầu tư.
Thêm vào đó, việc cổ phần hóa cho phép doanh nghiệp huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, góp phần thúc đẩy phát triển thị trường tài chính. Tuy nhiên, tính phân tán quyền sở hữu cũng dẫn đến thách thức trong quản lý và giám sát. Các cổ đông thường không tham gia trực tiếp vào hoạt động hàng ngày, và sự phân chia quyền sở hữu có thể tạo ra các mâu thuẫn lợi ích giữa cổ đông lớn và cổ đông nhỏ, cũng như giữa cổ đông và ban lãnh đạo công ty. Khái niệm CTCP ở Việt Nam với các nước khác có thể cho thấy sự khác biệt về quyền lợi cổ đông, trách nhiệm quản lý, và cấu trúc quản trị công ty.
Luật Doanh nghiệp Việt Nam quy định công ty cổ phần là doanh nghiệp mà vốn điều lệ được chia thành các cổ phần, với các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và nghĩa vụ tài sản trong phạm vi số vốn đã góp. Mô hình này 4 Điều 110 LDN năm 2014. 11 khuyến khích đầu tư từ nhiều nguồn khác nhau và cho phép tự do chuyển nhượng cổ phần, phù hợp với nền kinh tế mở và hội nhập. Sự khác biệt về khái niệm CTCP giữa các quốc gia chủ yếu xoay quanh trách nhiệm của ban quản trị, quyền hạn của cổ đông, và cách thức bảo vệ lợi ích cổ đông.
Ở các nước phương Tây, đặc biệt là Mỹ và Anh, cổ đông có vai trò lớn và quyền biểu quyết mạnh mẽ trong các quyết định của công ty. Nhật Bản và Đức lại ưu tiên mô hình quản lý chặt chẽ hơn, trong đó ban quản lý thường có trách nhiệm cao với sự ổn định dài hạn của doanh nghiệp. Ta thấy rằng mỗi quốc gia có cách định nghĩa CTCP khác nhau nhưng về bản chất là tương đồng, nêu bật đặc trưng của công ty đối vốn, có sự tách bạch tài sản của công ty và tài sản của cổ đông. Theo đó, có thể hiểu CTCP là một loại hình doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được phân chia thành nhiều phần bằng nhau, gọi là cổ phần.
Các cổ đông sở hữu cổ phần sẽ góp vốn vào công ty và có quyền lợi cũng như nghĩa vụ tương ứng với số lượng cổ phần mà họ nắm giữ. Cổ đông có quyền chuyển nhượng cổ phần của mình, giúp công ty có tính linh hoạt cao trong việc thu hút vốn từ thị trường. Đặc điểm pháp lý của công ty cổ phần Từ khái niệm đã phân tích, có thể thấy CTCP theo pháp luật Việt Nam có những đặc điểm sau: Thứ nhất, về tư cách pháp lý, sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, CTCP có tư cách pháp nhân và vì vậy công ty có thể tham gia vào các hoạt động kinh tế một cách độc lập theo quy định và chịu trách nhiệm trước pháp luật. Các cổ đông hay những người quản trị công ty đều không có tư cách pháp nhân.
CTCP phải thông qua những người đại diện cho công ty để có quyền giao dịch với bên ngoài theo quy định của pháp luật. CTCP có cấu trúc vốn mở, khi thành lập chủ yếu quan tâm đến 12 vốn góp mà không cần thiết quan tâm ai là người góp vốn. CTCP có cơ cấu tổ chức rất chặt chẽ, đòi hỏi phải có cơ cấu quản trị tách bạch với sở hữu. Tư cách pháp nhân giúp CTCP hoạt động độc lập, không bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi của cổ đông.
Công ty có thể tiếp tục tồn tại và hoạt động ngay cả khi cổ đông sáng lập rời bỏ. Điều này tạo sự ổn định cho công ty, giúp công ty tập trung vào phát triển lâu dài. Tuy nhiên, cũng chính vì tính độc lập mà CTCP đòi hỏi các quy định rõ ràng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các cổ đông để tránh xung đột. Thứ hai, về vốn điều lệ, CTCP là một loại hình doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được phân chia thành nhiều phần bằng nhau, gọi là cổ phần.
Các cổ đông sở hữu cổ phần sẽ góp vốn vào công ty và có quyền lợi cũng như nghĩa vụ tương ứng với số lượng cổ phần mà họ nắm giữ. Cổ đông có quyền chuyển nhượng cổ phần của mình, giúp công ty có tính linh hoạt cao trong việc thu hút vốn từ thị trường.Giá trị mỗi cổ phần ty gọi là mệnh giá và được phản ánh trong cổ phiếu. Một cổ phiếu có thể phản ánh mệnh giá của một hoặc nhiều cổ phần. Cổ đông có thể thực hiện việc góp vốn bằng cách mua cổ phần của công ty và họ có thể mua nhiều cổ phần của công ty đó.
Pháp luật hoặc Điều lệ công ty có thể giới hạn tối đa số cổ phần mà một cổ đông có thể mua nhằm phòng tránh việc một cổ đông nào đó có nhiều vốn góp sẽ thực hiện quyền kiểm soát hoặc thao túng công ty. Luật Doanh nghiệp không quy định vốn điều lệ của công ty phải chia thành bao nhiêu phần, mỗi phần có giá trị bao nhiêu.