CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ HỘ KINH DOANH VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỘ KINH DOANH 1. Khái quát về hộ kinh doanh 1. Khái niệm và đặc điểm của hộ kinh doanh Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (năm 1986) lần đầu tiên ghi nhận sự tồn tại của hình thức sở hữu tư nhân bên cạnh sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể và đề ra chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Thực thi chính sách đổi mới của Đảng, Nhà nước đã ban hành văn bản pháp luật đầu tiên chính thức ghi nhận sự tồn tại của kinh tế tư nhân, đó là Nghị định số 27-HĐBT ngày 09/3/1988 ban hành Bản quy định về chính sách đối với kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp, xây dựng, vận tải.
Tại văn bản này, hộ kinh doanh (HKD) chính thức được công nhận và tồn tại dưới tên gọi “hộ cá thể” và “hộ tiểu công nghiệp”. Kể từ đó đến nay, HKD tồn tại dưới nhiều tên gọi khác nhau với đặc điểm pháp lý thay đổi theo từng thời kỳ (xem Bảng tổng hợp tên gọi và đặc điểm pháp lý của hộ kinh doanh qua từng thời kỳ tại Phụ lục của Đề án), song về bản chất, mô hình kinh doanh này qua các thời kỳ đều được nhận diện nhất quán với một số đặc điểm chính như sau: - Do một hoặc nhiều cá nhân hoặc một hộ gia đình thành lập: Kể từ quy định đầu tiên, chủ thể đầu tư vốn để thành lập HKD dần được mở rộng, từ chỗ chỉ do cá nhân đăng ký kinh doanh là người lao động trực tiếp, sau đó có thể do một nhóm người hay một hộ gia đình thành lập và không nhất thiết phải là người lao động trực tiếp. - Quy mô kinh doanh nhỏ: HKD bị giới hạn về quy mô hinh doanh, có thời kì giới hạn bằng quy mô vốn (dưới vốn pháp định) và khi Luật Doanh nghiệp năm 1999 bỏ quy định về điều kiện thành lập doanh nghiệp phải có đủ vốn pháp định thì các nghị định ban hành sau năm 1999 quy định giới hạn quy mô của HKD bằng số lượng địa điểm kinh doanh và số lượng người lao động được sử dụng thường xuyên tại HKD. Các hạn chế 8 quy mô kinh doanh này được áp dụng đến khi Chính phủ ban hành Nghị định số 01/2021/NĐ-CP thì bị bãi bỏ.
- Không có tư cách pháp nhân. - Chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của chủ thể thành lập hộ. - Có đăng ký kinh doanh: Thủ tục đăng ký HKD, thay cho thủ tục xin phép và cấp phép kinh doanh, bắt đầu được quy định kể từ Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh. Bên cạnh đó, một số đối tượng được quy định là không phải đăng ký kinh doanh như hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến.
Tuy nhiên, việc xác định các đối tượng này có phải là HKD hay không hiện nay vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau do pháp luật qua các thời kì đều chưa có quy định rõ ràng. Nhìn chung, chưa có một khái niệm, định nghĩa cụ thể về HKD trong các văn bản quy phạm pháp luật quy định về khu vực kinh tế này. Khoản 1 Điều 79 Nghị định số 01/2021/NĐ-CP có quy định về HKD nhưng chủ yếu mang tính mô tả: “Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc các thành viên hộ gia đình đăng ký thành lập và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh của hộ. Trường hợp các thành viên hộ gia đình đăng ký hộ kinh doanh thì ủy quyền cho một thành viên làm đại diện hộ kinh doanh.
Cá nhân đăng ký hộ kinh doanh, người được các thành viên hộ gia đình ủy quyền làm đại diện hộ kinh doanh là chủ hộ kinh doanh”. Theo quy định pháp luật hiện hành, HKD có các đặc điểm sau: Thứ nhất, về chủ thể thành lập, HKD do một cá nhân hoặc do các thành viên hộ gia đình thành lập. Cá nhân, thành viên hộ gia đình thành lập HKD phải đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 80 Nghị định số 01/2021/NĐ-CP như: là công dân Việt Nam có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của Bộ luật Dân sự; không phải người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang 9 bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; không đồng thời là chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh (trừ trường hợp được sự nhất trí của các thành viên hợp danh còn lại)… Trường hợp HKD do một cá nhân thành lập thì HKD đó thuộc sở hữu của một chủ là cá nhân và cá nhân chủ hộ kinh doanh có toàn quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến hộ. Trường hợp HKD do các thành viên hộ gia đình thành lập thì HKD thuộc sở hữu của nhiều người.
Mọi vấn đề liên quan đến HKD do các thành viên trong hộ gia đình quyết định. Các thành viên này ủy quyền cho một thành viên làm đại diện HKD (gọi là chủ HKD) để tham gia giao dịch với bên ngoài. Việc quy định hộ gia đình/thành viên hộ gia đình có quyền thành lập HKD bắt nguồn từ việc hộ gia đình được công nhận là một chủ thể quan hệ pháp luật dân sự kể từ Bộ luật Dân sự năm 1995. Điều 106 Bộ luật Dân sự năm 2005 đưa ra khái niệm hộ gia đình như sau: “Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này”.
Có thể thấy định nghĩa này mới chỉ thể hiện được yếu tố “kinh tế” mà chưa phản ánh được tính chất “gia đình” của hộ gia đình. Đến khi Bộ luật Dân sự năm 2015 ra đời, khái niệm hộ gia đình không còn được quy định. Điều này, một mặt, đã loại bỏ được những hạn chế đặt ra trong quy định tại Điều 106 Bộ luật Dân sự năm 2005 về lĩnh vực hoạt động kinh doanh và tính chất “phát triển kinh tế chung” của hộ gia đình; mặt khác, không còn quy định cụ thể để căn cứ vào đó xác định chủ thể là “hộ gia đình” trong quan hệ pháp luật dân sự liên quan đến HKD. Pháp luật Việt Nam hiện hành không có một định nghĩa chung về hộ gia đình mà mỗi ngành luật, lĩnh vực cụ thể lại định nghĩa hộ gia đình theo cách khác nhau.
Chẳng hạn, khoản 2 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 định nghĩa: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật 10 này”. Khoản 1, 2 Điều 10 Luật Cư trú năm 2020 quy định: “Những người cùng ở tại một chỗ ở hợp pháp và có quan hệ gia đình là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, cha, mẹ, vợ, chồng, con và anh ruột, chị ruột, em ruột, cháu ruột thì có thể đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú theo hộ gia đình”; “Người không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này nếu có đủ điều kiện đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú tại cùng một chỗ ở hợp pháp theo quy định của Luật này thì được đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú vào cùng một hộ gia đình”. Khoản 25 Điều 3 Luật Đất đai năm 2024 quy định: “Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành”. Nhìn chung, có thể hiểu hộ gia đình là tập hợp những người có quan hệ huyết thống, hôn nhân, nuôi dưỡng và/hoặc đang sống chung, cùng đăng ký thường trú hoặc tạm trú tại một chỗ ở hợp pháp.
Tuy nhiên, đây mới chỉ là cách hiểu truyền thống cũng như là suy luận dựa trên các quy định pháp luật hiện hành có liên quan. Việc Bộ luật Dân sự năm 2015 và Nghị định số 01/2021/NĐ-CP tiếp tục không đưa ra một cách xác định/định nghĩa riêng về hộ gia đình hoặc dẫn chiếu đến khái niệm hộ gia đình tại văn bản quy phạm pháp luật khác khiến cho quy định “thành viên hộ gia đình có quyền thành lập hộ kinh doanh” dường như không có ý nghĩa và thực tiễn thực hiện quy định này có thể bị tuỳ nghi và không có sự khác biệt với quy định “nhóm người gồm các cá nhân có quyền thành lập hộ kinh doanh” tại Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp đã được Nghị định số 01/2021/NĐ-CP bãi bỏ. Thứ hai, về trách nhiệm tài sản, chủ thể thành lập HKD chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh của hộ. Cụ thể, trường hợp HKD do một cá nhân đăng ký thành lập thì cá nhân đó phải chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của HKD.
Trường hợp HKD do các thành viên hộ gia đình đăng ký thành lập thì trách nhiệm tài sản được xác 11 định theo quy định tại Bộ luật Dân sự. Theo đó, căn cứ quy định tại Điều 103 Bộ luật Dân sự năm 20151, HKD trong trường hợp này trước tiên phải chịu trách nhiệm bằng tài sản chung của hộ gia đình. Trường hợp tài sản chung không có hoặc không đủ để thực hiện nghĩa vụ chung thì các thành viên hộ gia đình phải chịu trách nhiệm liên đới theo quy định tại Điều 288 Bộ luật Dân sự năm 2015 bằng tài sản riêng của mình. Có thể thấy, bản chất của trách nhiệm vô hạn trong kinh doanh của HKD cũng giống như trách nhiệm vô hạn của chủ doanh nghiệp tư nhân: nếu tài sản trong kinh doanh không đủ để trả nợ thì HKD sẽ phải lấy cả tài sản không đầu tư vào HKD để trả nợ.