Chương 1: Những vấn đề lý luận về áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Chương 2: Thực tiễn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang. Chương 3: Yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lượng áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. 7 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ VÀ TĂNG NẶNG TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ 1.
Khái niệm áp dụng pháp luật và chủ thể áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự 1. Khái niệm áp dụng pháp luật; khái niệm áp dụng pháp luật về tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Khái niệm áp dụng pháp luật Ở bất cứ một hình thức nhà nước nào thì pháp luật luôn là một công cụ để đảm bảo cho một xã hội phát triển ổn định, khi đặt ra những quy phạm pháp luật, Nhà nước ta mong muốn sử dụng chúng để điều chỉnh các quan hệ xã hội, đáp ứng lợi ích của nhân dân lao động và sự tiến bộ xã hội [10]. Mục đích đó chỉ đạt được khi các chủ thể thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật trong đời sống thực tế. Áp dụng pháp luật là khái niệm pháp lý dùng để chỉ một trong bốn hình thức thực hiện pháp luật, đó là tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật (ADPL).
Giữa các hình thức thực hiện pháp luật này luôn có sự đan xen, bao chứa và gắn bó chặt chẽ với nhau, không biệt lập với nhau. Các chủ thể thông thường phải cùng đồng thời thực hiện các quy định pháp luật dưới nhiều hình thức khác nhau [1, tr. Vì vậy, để nghiên cứu ADPL thì trước hết phải tìm hiểu về thực hiện pháp luật. Pháp luật là sản phẩm của lịch sử, tồn tại cùng với Nhà nước và là một công cụ quản lý xã hội không thể thiếu đối với bất kỳ kiểu nhà nước nào.
Tuy nhiên, bản thân pháp luật lại không trực tiếp tác động và điều chỉnh các quan hệ xã hội mà phải thông qua một “khâu” trung gian đó là thực hiện pháp luật. Thực hiện pháp luật là một giai đoạn quan trọng và không thể thiếu trong cơ chế điều chỉnh pháp luật. “Muốn cơ chế điều chỉnh pháp luật vận hành tốt, 8 pháp luật được phát huy vai trò, giá trị của mình trong đời sống xã hội thì quan trọng là phải thực hiện pháp luật một cách đầy đủ, chính xác, triệt để và hiệu quả” [1, tr. Ví dụ: Tại phần thủ tục bắt đầu phiên tòa (Mục IV, Chương XXI), Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử, phổ biến quyền và nghĩa vụ cho bị cáo và người tham gia tố tụng khác là đã chấp hành pháp luật theo quy định tại Điều 301 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021 (sau đây gọi là BLTTHS năm 2015).
Ngược lại với tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật luôn luôn được thể hiện dưới dạng hành động và là hình thức thực hiện các quy phạm pháp luật bắt buộc. Sử dụng pháp luật hình thức thực hiện pháp luật trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện quyền, tự do pháp lý của mình, nghĩa là chủ thể thực hiện những hành vi mà pháp luật cho phép. Ví dụ: một người bị truy tố, xét xử có thể nhờ người khác bào chữa cho mình là đã sử dụng pháp luật theo Điều 60, Điều 61 BLTTHS năm 2015. Áp dụng pháp luật được sử dụng trong những trường hợp: Khi quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể không mặc nhiên phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt; khi xảy ra tranh chấp về quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ thể mà họ không tự giải quyết được với nhau và yêu cầu có sự can thiệp của một chủ thể có thẩm quyền; khi cần áp dụng biện pháp cưỡng chế nhà nước đối với các chủ thể vi phạm pháp luật; khi cần áp dụng sự cưỡng chế của Nhà nước đối với các chủ thể không vi phạm pháp luật mà chỉ vì lợi ích chung của xã hội; khi cần áp dụng các hình thức khen thưởng đối với các chủ thể có thành tích theo quy định của pháp luật; khi cần kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể trong một số quan hệ pháp luật nhất định theo quy định của pháp luật; khi cần phải xác nhận tồn tại của một sự kiện thực tế cụ thể nào đó theo quy định của pháp luật [2, tr.
9 Ngoài ra, cũng có quan điểm cho rằng có năm trường hợp cần phải ADPL [1, tr. Tuy nhiên, các quan điểm này chỉ khác nhau ở cách phân loại, còn bản chất thì đều thống nhất về các trường hợp cần ADPL. Áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật luôn mang tính quyền lực nhà nước. Thể hiện trước hết ở chủ thể có thẩm quyền ADPL.
Nếu như với các hình thức thực hiện pháp luật khác thì bất kỳ cá nhân, tổ chức nào cũng thực hiện được thì ADPL chỉ do những cơ quan, cá nhân, tổ chức được pháp luật cho phép mới có quyền thực hiện và cũng chỉ được áp dụng trong một phạm vi nhất định. Kết quả của việc ADPL là những mệnh lệnh, quyết định buộc mọi tổ chức, cá nhân đều phải chấp hành, nếu không muốn bị cưỡng chế bằng sức mạnh nhà nước. Áp dụng pháp luật là hoạt động phải tuân theo những hình thức và thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định. Do tính chất quyền lực nhà nước nên để tránh sự lạm dụng, tùy tiện, pháp luật quy định những điều kiện, trình tự, thủ tục chặt chẽ buộc các chủ thể khi tiến hành ADPL phải nghiêm chỉnh chấp hành.
Chính vì vậy mà trong quá trình ADPL thì chủ thể có thẩm quyền cũng phải đồng thời tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật. Từ sự phân tích trên tác giả đồng ý với khái niệm: Áp dụng pháp luật là hoạt động có tính tổ chức, quyền lực nhà nước do các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm cá biệt hóa các quy phạm pháp luật hiện hành vào những trường hợp cụ thể, đối với các tổ chức, cá nhân cụ thể [2, tr. Khái niệm áp dụng pháp luật về tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Áp dụng pháp luật về tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là một phần của áp dụng pháp luật về hình sự. Khái niệm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: 10 Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được hiểu là tình tiết được quy định trong Bộ luật Hình sự làm cho mức độ nguy hiểm của trường hợp phạm tội cụ thể giảm đi, là một trong những căn cứ quan trọng để truy cứu trách nhiệm hình sự, quyết định hình phạt cụ thể đối với người phạm tội.
Hiện nay Bộ luật Hình sự (BLHS) cũng như khoa học pháp lý ở nước ta chưa đưa ra khái niệm về tình tiết giảm nhẹ TNHS một cách thống nhất, còn nhiều quan điểm khác nhau. Tuy nhiên, phần lớn các nhà nghiên cứu đều nhận định rằng, “tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là tình tiết được quy định trong Bộ luật Hình sự với tính chất là tình tiết giảm nhẹ chung hoặc là tình tiết được ghi nhận trong văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật hay do Tòa án tự xem xét, cân nhắc và ghi rõ trong bản án, đồng thời là một trong những căn cứ để Tòa án cá thể hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với người phạm tội theo hướng giảm nhẹ hơn trong phạm vi một khung hình phạt” [6, tr. Như vậy, chúng ta có thế thấy rằng, tình tiết giảm nhẹ TNHS là những yếu tố về các vấn đề hoàn cảnh, điều kiện xảy ra sự việc mà ảnh hưởng đến việc thực hiện tội phạm, từ đó nó làm giảm mức độ nguy hiểm cho xã hội, giảm thiệt hại tài sản của nhà nước và nhân dân, do vậy, làm giảm TNHS cho người phạm tội. Việc giảm nhẹ TNHS phản ánh chính sách khoan hồng của Đảng và nhà nước ta đối với các loại hình phạm tội, mức độ giảm nhẹ TNHS như thế nào thì còn căn cứ vào các quy định của pháp luật được thể hiện trong BLHS cũng như các chế tài hoặc Tòa án cân nhắc, xem xét các yếu tố hoàn cảnh của thân nhân phạm tội để quyết định mức độ giảm nhẹ TNHS.
Từ những phân tích trên, ta có thể đưa ra khái niệm: Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là tình tiết được quy định trong Bộ luật Hình sự làm cho mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cụ thể giảm nhẹ đi và là căn cứ để Tòa án quyết định hình phạt đối với người phạm tội theo 11 hướng nhẹ hơn trong phạm vi một khung hình phạt nếu trong vụ án hình sự có tình tiết này. Theo tác giả Phạm Mạnh Hùng, các tình tiết giảm nhẹ TNHS có thể hiểu là làm giảm mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội trong phạm vi một khung hình phạt so với những trường hợp phạm tội tương tự nhưng không có tình tiết giảm nhẹ làm căn cứ để giảm nhẹ TNHS đối với người phạm tội. Còn các tình tiết tăng nặng TNHS là làm tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội trong phạm vi một khung hình phạt so với các trường hợp phạm tội tương tự nhưng không có tình tiết tăng nặng đó, làm căn cứ để tăng nặng TNHS đối với người phạm tội. Bởi vậy, khi quyết định hình phạt, bên cạnh việc căn cứ vào quy định của BLHS Tòa án còn phải cân nhắc đến các yếu tố khác như tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng TNHS và giảm nhẹ TNHS.
Nếu trong vụ án không có tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS, Tòa án chỉ cần căn cứ vào các quy định của BLHS, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân người phạm tội để quyết định hình phạt. Trường hợp phạm tội chỉ có tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng TNHS thì Tòa án cần quyết định hình phạt đối với người phạm tội nhẹ hơn so với các trường hợp phạm tội tương tự khác không có tình tiết giảm nhẹ.