Chương 1: Cơ sở lý luận về áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân các cấp ở tỉnh Hà Tĩnh Chương 2: Các yếu tố ảnh hƣởng và thực trạng áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân các cấp ở tỉnh Hà Tĩnh. Chương 3: Quan điểm và giải pháp đảm bảo áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân các cấp ở tỉnh Hà Tĩnh. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI UỶ BAN NHÂN DÂN CÁC CẤP 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai tại Uỷ ban nhân dân các cấp 1.
Khái niệm tranh chấp đất đai Đất đai là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nƣớc đại diện chủ sở hữu, nhà nƣớc giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất và công nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức, cá nhân trên cơ sở quy định của pháp luật. Trong quá trình quản lý và sử dụng đất đƣợc Nhà nƣớc giao, giữa các tổ chức, cá nhân có thể phát sinh bất đồng, mâu thuẫn với nhau hoặc với chủ thể khác và dẫn tới tranh chấp. Không chỉ đối với đất đai, trong thực tiễn cuộc sống còn tồn tại nhiều loại tranh chấp khác nhau, do các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật không phải lúc nào cũng có chung quan điểm hay cùng một cách tiếp cận về các vấn đề trong quan hệ pháp luật, vì thế sẽ dẫn đến những bất đồng, xung đột hay những mâu thuẫn nhất định. Tùy vào từng lĩnh vực, loại quan hệ, có thể có nhiều loại tranh chấp khác nhau, chẳng hạn: tranh chấp dân sự, tranh chấp trong kinh doanh, thƣơng mại,… Tranh chấp đất đai là một trong những loại tranh chấp phát sinh trong đời sống xã hội.
Trƣớc khi Luật Đất đai năm 2003 ra đời, thuật ngữ tranh chấp đất đai đã đƣợc sử dụng tại Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993 và trong một số văn bản pháp luật có liên quan của các cơ quan Nhà nƣớc, nhƣng chƣa đƣợc giải thích chính thức, mà chủ yếu đƣợc hiểu qua các quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai, các tranh chấp khác có liên quan đến quyền sử dụng đất. Luật Đất đai năm 2003 ra đời lần đầu tiên đã định nghĩa tại Khoản 26, Điều 4: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai” [30, Điều 4, Khoản 26]. 8 Luật Đất đai năm 2013 tiếp tục giữ nguyên cách quy định nhƣ trên, chỉ có sự thay đổi về cách sử dụng thuật ngữ: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai” [30, Điều 3, Khoản 24]. Từ thực tế và lý luận cho thấy tranh chấp đất đai đƣợc hiểu là tranh chấp quyền sử dụng đất đối với diện tích đất cụ thể giữa các chủ thể trong hoạt động quản lý và sử dụng đất.
Ví dụ nhƣ tranh chấp ai là ngƣời có quyền sử dụng đất với toàn bộ thửa đất hoặc một phần thửa đất, tranh chấp ranh giới giữa các thửa đất liền kề, tranh chấp để đòi lại đất (đất đã cho ngƣời khác mƣợn sử dụng mà không trả lại,…). Từ khái niệm về tranh chấp đất đai, có thể nhận diện loại tranh chấp này dựa trên một số đặc trƣng cơ bản sau: Thứ nhất, về bản chất pháp lý, tranh chấp đất đai là những bất đồng, mâu thuẫn phát sinh trong nội bộ nhân dân. Nhƣng đây không phải là những bất đồng, mâu thuẫn nói chung mà là những bất đồng, mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ của ngƣời sử dụng đất. Điều này có nghĩa là tranh chấp đất đai là những bất đồng, mâu thuẫn liên quan đến những việc ngƣời sử dụng đất đƣợc làm và những việc không đƣợc làm hoặc phải thực hiện do pháp luật quy định trong quá trình sử dụng đất.
Hay nói cách khác, đối tƣợng của tranh chấp đất đai là các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ đất đai giữa các chủ thể. Thứ hai, về chủ thể của tranh chấp đất đai, do chế độ sở hữu đất đai ở nƣớc ta là “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản l ” [30, Điều 4], ngƣời sử dụng đất (bao gồm tổ chức, hộ gia đình, cá nhân; cơ sở tôn giáo, cộng đồng dân cƣ; tổ chức, cá nhân nƣớc ngoài, ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài) chỉ có quyền sử dụng đất khi đƣợc Nhà nƣớc giao đất, cho thuê đất và công nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy, chủ thể của tranh chấp đất đai là ngƣời sử dụng đất, bao gồm hai hoặc 9 nhiều bên trong quan hệ đất đai. Nói cách khác, tranh chấp đất đai không phải là tranh chấp về quyền sở hữu đất đai mà là các tranh chấp về quyền chiếm hữu, quyền quản lý hoặc quyền sử dụng đất giữa những ngƣời sử dụng đất với nhau hoặc giữa họ với các bên liên quan trong quan hệ đất đai.
Thứ ba, đối tƣợng của tranh chấp đất đai không phải là đất đai mà là các quyền và nghĩa vụ của ngƣời sử dụng đất. Đối tƣợng của tranh chấp đất đai đƣợc nhận diện trên hai khía cạnh: Về khía cạnh pháp lý, đối tƣợng của tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của ngƣời sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai; Về khía cạnh kinh tế, đối tƣợng của tranh chấp đất đai là tranh chấp về lợi ích kinh tế (các lợi ích vật chất đƣợc tạo ra từ đất đai trong quá trình sử dụng) giữa các chủ thể trong quá trình quản lý và sử dụng đất. Thứ tư, về nội dung của tranh chấp đất đai, tranh chấp đất đai có nội hàm rất đa dạng và phức tạp. Nó phong phú về thể loại: Tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất; tranh chấp về phân chia tài sản đất đai khi vợ chồng ly hôn; tranh chấp về đòi lại đất cho ở nhờ, cho mƣợn.
Tranh chấp đất đai đa dạng về chủ thể tranh chấp: Các bên tranh chấp đất đai có thể là hộ gia đình, cá nhân; tổ chức (tổ chức trong nƣớc, tổ chức nƣớc ngoài); cộng đồng dân cƣ, cơ sở tôn giáo. Thứ năm, đất đai có vai trò rất quan trọng trên các khía cạnh kinh tế, xã hội, chính trị. Hơn nữa, đất đai là vấn đề rất nhạy cảm về mặt chính trị; vì vậy tranh chấp đất đai dễ gây ra sự mất ổn định về chính trị và làm đảo lộn trật tự các quan hệ xã hội đã đƣợc xác lập. Mặt khác, đất đai liên quan trực tiếp đến lợi ích của mọi thành viên trong xã hội nên tranh chấp đất đai xảy ra có thể lôi kéo đông ngƣời tham gia.
Họ không chỉ là các thành viên trong hộ gia đình mà còn trong các dòng họ, dân cƣ trong thôn, xóm. Tranh chấp đất đai chịu sự ảnh hƣởng của phong tục, 10 tập quán, nếp suy nghĩ, hành vi ứng xử, trình độ văn hóa khác nhau của cƣ dân ở các địa phƣơng, các vùng miền trong cả nƣớc. Điều này làm cho tính chất tranh chấp đất đai rất phức tạp, việc giải quyết gặp nhiều khó khăn, vƣớng mắc và kéo dài. Từ sự phân tích trên, có thể rút ra khái niệm: Tranh chấp đất đai là những mâu thuẫn, bất đồng kiến giữa các chủ thể sử dụng đất với nhau, khi họ cho rằng các quyền, nghĩa vụ và các lợi ích hợp pháp của họ trong quan hệ đất đai đã bị phía bên kia xâm hại.
Khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai Tranh chấp đất đai để lại các hệ lụy xấu phá vỡ sự đoàn kết trong nội bộ nhân dân, là nguy cơ tiềm ẩn sự mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và là điều kiện để các thế lực thù địch tuyên truyền kích động, xuyên tạc, chống phá Nhà nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam v. Để giải quyết mẫu thuẫn và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ pháp luật, đòi hỏi phải có chủ thể thứ ba đứng ra làm trung gian giúp các bên xóa bỏ mẫu thuẫn, điều hòa lợi ích giữa các bên, điều hòa lợi ích của cá nhân, lợi ích của tập thể và lợi ích của toàn xã hội. Vì vậy, giải quyết tranh chấp đất đai là một nội dung rất quan trọng và không thể thiếu của pháp luật đất đai. Nhà nƣớc với tƣ cách vừa là đại diện chủ sở hữu, vừa là cơ quan quản lý đất đai, đã xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật đất đai, xây dựng hệ thống các cơ quan, tổ chức và đội ngũ cán bộ, công chức để phục vụ cho giải quyết tranh chấp đất đai.
Việc giải quyết tranh chấp đất đai sẽ “góp ph n điều chỉnh các quan hệ đất đai cho phù hợp với lợi ích chính đáng của cộng đồng, xã hội và của từng cá nhân cụ thể, đồng thời đấu tranh, ngăn chặn, phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật đất đai và giáo dục thức tôn trọng pháp luật của mọi công dân” [23]. Nghiên cứu về giải quyết tranh chấp đất đai cho thấy có một số đặc điểm 11 cơ bản nhƣ: Giải quyết tranh chấp đất đai đƣợc thực hiện bởi các chủ thể là cơ quan nhà nƣớc, với nhiều hình thức giải quyết phong phú và đa dạng, các chủ thể đó có thể là Tòa án nhân dân hoặc UBND cấp có thẩm quyền. Bên cạnh đó, giải quyết tranh chấp đất đai là giải quyết tranh chấp về quyền quản lý và sử dụng đất đai, không phải là giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu đất đai. Giải quyết tranh chấp đất đai là một nội dung quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nƣớc về đất đai đƣợc ghi nhận trong hệ thống pháp luật.
Kết quả giải quyết tranh chấp đất đai trong thực tế là thƣớc đo để đánh giá năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ý thức chấp hành pháp luật của các cơ quan nhà nƣớc, đội ngũ cán bộ, công chức, từ đó hƣớng tới xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, xây dựng bộ máy nhà nƣớc trong sạch, hiệu quả.