CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu nước ngoài. Quá trình nghiên cứu, tác giả đã tổng hợp được một số công trình nghiên cứu trên thế giới làm nền tảng lý luận cho đề tài như sau: (1). Healy(1985)[29] đã nghiên cứu trên 94 công ty ở US trong giai đoạn 1930-1980 để nghiên cứu.
Theo cách tiếp cận của Healy, phần không thể điều chỉnh chính là trung bình tổng biến dồn tích của các năm trước 𝑻𝑨𝒊𝒕 ∑𝒕 𝑨𝒊𝒕−𝟏 NDAit = 𝒏 DA it = TA it /A it-1 – NDA it Chú thích: n: số năm trong kỳ ước tính t: năm sự kiện (năm nghiên cứu hành động điều chỉnh lợi nhuận) i: công ty i cần nghiên cứu hành động điều chỉnh lợi nhuận Theo mô hình của Healy, khi không có hành động điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị, DA bằng 0 và TA chính là NDA. NDA chính là giá trị trung bình của TA. Hay nói cách khác, NDA không thay đổi từ năm này sang năm khác. Kế thừa từ mô hình của Healy, Mô hình DeAngelo so sánh tổng biến kế toán dồn tích (TA) giữa thời kỳ t với TA thời kỳ t-1 và chênh lệch giữa hai thời kỳ này chính là các biến kế toán được điều chỉnh (DA).
Mô hình của DeAngelo giả định rằng các thành phần biến kế toán không thể điều chỉnh (NDA) sinh ra là ngẫu nhiên và bằng với tổng số biến kế toán dồn tích (TA) của thời kỳ t-1 hay nói cách khác NDA không đổi qua hai năm, do đó sự thay đổi trong tổng số biến kế toán dồn tích (TA) giữa thời kỳ t và thời kỳ t-1 được giả định là do việc thực hiện các điều chỉnh kế toán. Dechow và Sloan (1991)[24] nghiên cứu trên 91 công ty cùng ngành, mô hình loại bỏ giả thuyết về tính ổn định của biến kế toán không thể điều chỉnh NDA theo thời gian. Mô hình này cho rằng phần NDA là chung cho các doanh nghiệp cùng ngành. Từ đó, NDA được xác định thông qua nghiên cứu thực tế hoạt động của ngành.
Mô hình ngành như sau: TAit TA NDAit =β1 +β2medianj Ait−1 Trong đó: β1, β2: ước tính qua OLS trong kỳ ước tính Như vậy sau khi xác định phần biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh NDA, các nhà nghiên cứu sẽ xác định biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh DA và tuỳ thuộc vào kết quả tính toán các nhà nghiên cứu có thể đưa ra kết luận: Nếu DAt > 0: Điều chỉnh tăng lợi nhuận DAt <0: Điều chỉnh giảm lợi nhuận DAt =0 : Không điều chỉnh lợi nhuận (4). Từ đó xác định được biến kế toán dồn tích có thể thay đổi được DAt DAt / At-1 = TAt / At-1 - a1/ At-1 - a2ΔREVt / At-1- a3 PPEt / At-1 Với mô hình này, Jones(1991) đưa vào phương trình hồi quy chỉ có hai biến là REV và PPE. Jones cho rằng giá trị REV thể hiện sự biến động doanh thu thuần của doanh nghiệp trong kỳ kế toán, nó phản ánh tình hình và môi trường hoạt động kinh doanh và là khoản mục mang tính khách quan không bị nhà quản lý lợi dụng để điều chỉnh lợi nhuận trong kỳ. Còn giá trị PPE thể hiện nguồn lực nội tại của đơn vị trong việc tạo ra doanh thu, đồng thời khoản mục chi phí khấu hao là một khoản chi phí dồn tích không tự ý lớn ảnh hưởng đến tổng lợi nhuận trong kỳ.
Tuy nhiên, khi chọn REV làm biến nghiên cứu thì có thể doanh thu thuần cũng bị tác động thông qua các khoản doanh thu bị ghi nhận không đúng niên độ và các khoản c [9] này có thể là doanh thu khống của doanh nghiệp. Và đây chính là hạn chế cần khắc phục của mô hình Jones(1991). Xuất phát từ hạn chế kể trên, nhóm tác giả Dechow, Sloan và Sweeney (1995)[25] đã cải tiến mô hình Jones(1991) bằng cách đưa thêm biến Phải thu khách hàng để hạn chế ảnh hưởng của các khoản doanh thu. Mô hình Jones sau cải tiến được viết lại.
NDAt / At-1 = α/ At-1 + β1 (ΔREVt - ΔRECt )/ At-1 + β2 PPEt / At-1 Trong đó, ΔRECt là sự thay đổi trong tài khoản phải thu khách hàng. Kothari, Leone and Wasley(2005)[33] tiếp tục phát triển mô hình của Jones (1991) và Dechow, Sloan and Sweeney (1995),Kothari, Leone and Wasley (2005) đã bổ sung thêm biến về kết quả hoạt động kinh doanh trên tổng tài sản (ROA) vào mô hình gốc của Jones (1991) nhằm xem xét mối quan hệ tuyến tính giữa biến kế toán dồn tích và kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Mô hình Kothari, Leone and Wasley (2005) đề xuất như sau: NDAt / At-1 = α/ At-1 + β1 (REVt - RECt) / At-1 +β2 PPEt / At-1 + β3 ROAt- Trong đó: ROAt-1 là tỷ suất lợi nhuận trên tài sản của năm t-1 (7). Nghiên cứu với một mẫu gồm 1166 quan sát của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Malaysia từ năm 2010-2012.
Nghiên cứu này phân tích các nhân tố tác động đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Malaysia như: Z-Score (khủng hoảng tài chính), FCF (dòng tiền tự do), LEV (đòn bẩy tài chính), ROA (khả năng sinh lời) và Size (quy mô doanh nghiệp). Và kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có biến FCF và ROA là có tác động cùng chiều đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp vì các nhà quản lý sẽ tham gia thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận khi công ty có tình hình tài chính lành mạnh và có lợi nhuận cao, các yếu tố còn lại như Z-Score, LEV và SIZE không có ý nghĩa trong việc điều chỉnh lợi nhuận. c [10] (8) Archambault (2003)[41] trong nghiên cứu của mình, tác giả đã phân định chất lượng các công ty kiểm toán thành 2 nhóm, nhóm công ty kiểm toán Big 4 và nhóm còn lại là các công ty kiểm toán không phải Big 4. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, chất lượng kiểm toán có tác động thuận chiều đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận 1.
Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước (1).Huỳnh Thị Vân (2012)[14] tiến hành nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận trong phạm vi là 43 công ty cổ phần năm đầu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2008-2010. Kết quả nghiên cứu đi đến kết luận có 71% tổ chức niêm yết điều chỉnh tăng lợi nhuận, 29% tổ chức niêm yết điều chỉnh giảm lợi nhuận trên sàn HOSE. Với cùng phương pháp nghiên cứu, kết quả đánh giá gần tương tự cho sàn HNX với 73% tổ chức niêm yết trên sàn HNX điều chỉnh tăng lợi nhuận, 27% tổ chức niêm yết trên sàn HNX điều chỉnh giảm lợi nhuận. Phạm Thị Bích Vân(2012)[11] trong nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận của 60 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán HNX tiến hành năm 2010, dựa trên nền tảng lý thuyết của mô hình Jones cải tiến (1995), nghiên cứu đã đi đến kết luận mô hình Jones thực sự không phù hợp để nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trên sàn HNX.
Với những lập luận và chứng cứ cụ thể, Phạm Thị Bích Vân đã đề xuất mô hình ứng dụng cho nghiên cứu. Sử dụng công cụ SPSS phiên bản 16.0, kết quả hồi quy cho thấy mức độ phù hợp và có ý nghĩa của các biến tác động đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận gồm (1) Biến chi phí khấu hao; (2) Chi phí dự phòng; (3) Giá vốn hàng bán và chi phí bán hàng, quản lý doanh nghiệp. Bùi Thị Mai Hoài, Nguyễn Thị Tuyết Hoa (2015)[2] trong nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh thu nhập nhằm làm giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong các công ty niêm yết trên thị chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2008- 2012, với dữ liệu thu thập liên quan đến 211 công ty, tác giả đã xây dựng mô hình ước lượng kết hợp với phần mềm thống kê stata để phân tích, kiểm định và đi đến kết luận có 4 biến ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh thu nhập với mục đích làm giảm thuế TNDN phải nộp bao gồm (1) Hưởng chính sách ưu đãi c [11] thuế; (2)Ghi nhận doanh thu chưa thực hiện, doanh thu theo tiến độ; (3)Ghi nhận số lượng các khoản dự phòng và (4)Ghi nhận chi phí thuế TNDN hoãn lại. Nhận xét và đưa ra khe hổng Với việc nghiên cứu các lý thuyết nền, tổng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước, tác giả rút ra một số vấn đề sau: Thứ nhất, các mô hình nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận trên thế giới đều tập trung giải quyết các nhân tố tác động lên biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh (NDA), cụ thể như Healy (1985)[29] nghiên cứu tác động của tổng biến dồn tích, phát triển mô hình này, các nghiên cứu về sau như Dechow và Sloan (1991)[24]; Jones(1991)[32]; Dechow, Sloan và Sweeney (1995)[25]; Kothari, Leone and Wasley(2005)[33] cũng chỉ tập trung giải quyết các biến tác động như Tổng doanh thu, nợ phải thu, tài sản cố định hay tỷ suất sinh lời.
Tuy nhiên, việc nhận diện và xem xét mức độ điều chỉnh lợi nhuận theo các nhà nghiên cứu có thể thực hiện thông qua 2 cách. Một là, xem xét sự lựa chọn chính sách kế toán và hai là tính toán biến NDA. Tổng quan các nghiên cứu, tác giả nhận thấy rằng đã có các nghiên cứu xem xét sự lựa chọn của từng chính sách kế toán tác động đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận như Bartov (1993)[34] đề cập đến chính sách ghi nhận doanh thu; Neill, Pourciau, và Schaefer (1995)[36] hoặc Bishop và Eccher (2000)[22] xem xét tác động khi lựa chọn phương pháp trích khấu hao hay Hughes, Schwartz, và Fellingham (1988)[30] hoặc Neill, Pourciau, và Schaefer (1995)[36] nghiên cứu tác động khi lựa chọn phương pháp tính giá xuất hàng tồn kho.Tuy nhiên, theo ý kiến chủ quan của tác giả, các nghiên cứu này còn rời rạc cho từng lựa chọn chính sách kế toán. Việc nghiên cứu và tổng hợp ảnh hưởng của các lựa chọn chính sách kế toán lên hành vi điều chỉnh lợi nhuận là cần thiết nhằm cung cấp thông tin tổng hợp và đầy đủ Thứ hai, môi trường pháp lý chi phối hoạt động của các công ty niêm yết trên thế giới và Việt Nam khá chênh nhau.
Việc nhận diện và xem xét tác động của từng lựa chọn trong môi trường Việt Nam là cần thiết để đánh giá ý nghĩa và mức độ phù hợp của từng lựa chọn.