MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Thế giới càng phát triển thì nhu cầu năng lượng càng tăng cao. Trong thời gian vừa qua, chúng ta đã khai thác sử dụng triệt để nguồn năng lượng hóa thạch, thế nhưng nguồn năng lượng này ngày càng cạn kiệt, sẽ dẫn đến giá thành của nhiên liệu hóa thạch ngày càng tăng cao. Hơn nữa việc sử dụng nguồn năng lượng này là nguyên nhân chính thải lượng khí CO2 gây hiệu ứng nhà kính. Hậu quả của hiệu ứng nhà kính là nhiệt độ trái đất ngày càng nóng lên, nước biển dâng cao, hạn hán, lũ lụt…Tất cả những mối nguy hại đó tác động trực tiếp đến môi trường sống của chính con người.1: Mối quan hệ giữa mức độ tiêu thụ năng lượng và khí thải CO2 (Nguồn: U.
Energy Information Administration, International Energy Outlook 2016) Nhằm giảm thiểu tác động của sự biến đổi khí hậu lên môi trường sống của con người, rất nhiều biện pháp được đề ra và áp dụng nhằm thay thế nguồn năng lượng hóa thạch ngày càng cạn kiệt như: năng lượng gió, năng lượng mặt trời, năng lượng thủy triều. Thế nhưng có một giải pháp tuy không tạo ra năng lượng nhưng nó không kém phần hiệu quả, đó chính là tận dụng nhiệt thải và sử dụng hiệu quả nguồn năng lượng. Ngành dầu khí là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của nước ta. Dầu khí không chỉ mang lại nguồn ngoại tệ lớn cho quốc gia mà còn là nguồn năng lượng 1 quan trọng nhất hiện nay cho sự phát triển kinh tế.
Tính đến năm 2010, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) đã cung cấp gần 35 tỷ m3 khí khô cho sản xuất, 40% sản lượng điện của toàn quốc, 35-40% nhu cầu ure và cung cấp 70% nhu cầu khí hóa lỏng cho phát triển công nghiệp và tiêu dùng dân sinh (nguồn: Báo công thương). Song song với đó, mức độ tiêu thụ năng lượng của ngành dầu khí cũng chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng công suất tiêu thụ năng lượng trong các ngành công nghiệp. Mặt khác, tại hội thảo: “Tiết kiệm năng lượng-những vấn đề cấp bách” do Tập đoàn điện lực Việt Nam và Viện năng lượng tổ chức vào năm 2014 đã nhận xét mức độ tiêu hao năng lượng của Việt Nam cao gấp 5-6 lần so với các nước trong khu vực và trên thế giới (xét trên bình quân 1 đơn vị sản phẩm) [1]. Do đó, tiết kiệm năng lượng là ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển năng lượng quốc gia.
Tiết kiệm năng lượng trong ngành dầu khí (1 trong 3 trụ cột của ngành năng lượng) đã được đặt ra và thực hiện hiệu quả trong những năm vừa qua. Điển hình là nhà máy lọc dầu Dung Quất đã được áp dụng những biện pháp tối ưu hóa việc sử dụng năng lượng ngay cả trong thiết kế và vận hành. Các phân xưởng công nghệ trong nhà máy do những tập đoàn khác nhau thiết kế, mặc dù đã tối ưu nhưng đó chỉ là tối ưu cục bộ. Kết quả của việc tối ưu cục bộ là tồn tại những phần năng lượng không được thu hồi, dẫn đến nhu cầu năng lượng của nhà máy tăng lên.
Mặc khác, trong tình hình giá cả nhiên liệu ngày một leo thang, kéo theo giá thành sản phẩm tăng cao. Do đó, việc đánh giá hiệu quả sử dụng năng lượng của mạng lưới nhiệt trong nhà máy lọc dầu Dung Quất được đặt ra như một nhu cầu tất yếu. Để đánh giá mạng nhiệt của nhà máy lọc dầu Dung Quất, “Kỹ thuật phân tích Pinch” là một phương pháp phân tích rất hiệu quả và dễ dàng sử dụng. Nó cho phép xác định nguyên nhân sử dụng năng lượng không hiệu quả cũng như đưa ra các giải pháp tiết kiệm năng lượng trong mạng nhiệt của nhà máy.
Mục đích của đề tài Bằng kỹ thuật phân tích Pinch, đề tài mong muốn đánh giá toàn diện nhu cầu năng lượng và mạng lưới nhiệt nhằm xác định những lỗi trong thiết kế. Từ đó, đưa ra những giải pháp cải thiện mạng nhiệt của nhà máy nhằm giảm thiểu nhu cầu sử dụng 2 năng lượng, góp phần giảm giá thành sản phẩm. Hưởng ứng chương trình quốc gia về tiết kiệm năng lượng của chính phủ, đề tài này mong muốn được ứng dụng vào thực tế của nhà máy. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là mạng lưới nhiệt của nhà máy lọc dầu Dung Quất.
Nhà máy lọc dầu Dung Quất được xây dựng tại khu kinh tế Dung Quất thuộc địa bàn xã Bình Thuận và Bình Trị - huyện Bình Sơn - tỉnh Quảng Ngãi với diện tích sử dụng khoảng 338 ha mặt đất và 471 ha mặt biển, công suất khoảng 6,5 triệu tấn dầu thô/năm tương đương 148 nghìn thùng/ngày, nguyên liệu là 100% dầu thô từ mỏ Bạch Hổ hoặc hỗn hợp 85% dầu thô Bạch Hổ và 15% dầu chua Dubai. Công nghệ của nhà máy sử dụng là công nghệ hiện đại của UOP (Mỹ), MERICHEM (Mỹ) và IFP (Pháp).2: Sơ đồ công nghệ đơn giản của nhà máy lọc dầu Dung Quất 3 Nhà máy bao gồm 14 phân xưởng công nghệ và 11 phân xưởng phụ trợ. Bên cạnh đó nhà máy còn có: khu vực bể chứa dầu thô, khu vực bể chứa trung gian, phao rót dầu không bến, đê chắn sóng, cảng xuất sản phẩm và khu vực nhà hành chính. Trong đó, khu vực 14 phân xưởng công nghệ là quan trọng nhất và mạng lưới nhiệt của nhà máy (đối tượng nghiên cứu của đề tài) nằm trong khu vực này.
Các phân xưởng công nghệ bao gồm: Phân xưởng chưng cất dầu thô (CDU) Phân xưởng xử lý naphta bằng hydro (NHT) Phân xưởng đồng phân hóa naphta nhẹ (ISOMER) Phân xưởng reforming xúc tác liên tục (CCR) Phân xưởng xử lý kerosen (KTU) Phân xưởng cracking xúc tác tầng sôi (RFCC) Phân xưởng xử lý naphta của phân xưởng RFCC (NTU) Phân xưởng xử lý LCO bằng hydro (LCO-HDT) Phân xưởng xử lý LPG (LTU) Phân xưởng thu hồi propylen (PRU) Phân xưởng tái sinh amin (ARU) Phân xưởng xử lý nước chua (SWS) Phân xưởng trung hòa xút thải (CNU) Phân xưởng thu hồi lưu huỳnh (SRU) - Phạm vi nghiên cứu: Ứng dụng Kỹ thuật phân tích Pinch nhằm tối ưu hóa nhu cầu sử dụng năng lượng trong mạng lưới nhiệt của nhà máy lọc dầu Dung Quất. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài - Ý nghĩa khoa học: Chứng minh việc áp dụng hiệu quả kỹ thuật phân tích Pinch trong quy mô lớn. Qua đó góp phần tăng hiệu quả sử dụng năng lượng, giảm lượng khí thải CO2 và tiết kiệm tài nguyên. 4 - Ý nghĩa về thực tiễn: Đánh giá và đề xuất các giải pháp nhằm giảm 15,73% nhu cầu sử dụng năng lượng của nhà máy lọc dầu Dung Quất.
Đề tài này có thể đưa vào áp dụng trong nhà máy lọc dầu Dung Quất. - Nội dung nghiên cứu: Trích xuất dữ liệu từ bản vẽ thiết kế của nhà máy. Xây dựng mạng lưới nhiệt thực tế. Kiểm tra mạng lưới nhiệt.
Đề xuất các giải pháp. Tính toán kinh tế cho từng giải pháp. 5 CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI Linnhoff đã giới thiệu “Kỹ thuật Pinch” vào năm 1979 [2], là một trong những phương pháp tối ưu năng lượng tiêu thụ khi thiết kế mạng lưới nhiệt dựa trên định luật nhiệt động II. Từ khi được giới thiệu đến nay, kỹ thuật Pinch đã được nghiên cứu, ứng dụng và phát triển trên phạm vi rộng trong nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau.
Do đó, đã có rất nhiều tài liệu, bài báo, nghiên cứu về kỹ thuật Pinch. Những nghiên cứu về kỹ thuật Pinch tập trung vào 3 vấn đề chính: - Nghiên cứu lý thuyết của kỹ thuật Pinch. - Nghiên cứu ứng dụng trong những lĩnh vực công nghiệp. - Nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực hóa dầu.1 Những nghiên cứu về lý thuyết Pinch Cơ sở lý thuyết của luận văn này chủ yếu dựa trên tài liệu [2] của Ian C.
Trong tài liệu này, tác giả đã trình bày chi tiết những vấn đề của kỹ thuật Pinch với mục tiêu tăng hiệu quả sử dụng năng lượng khi thiết kế mạng nhiệt. Nhìn chung, tài liệu này đã kế thừa những nội dung cơ bản của ấn phẩm đầu tiên của B. Linnhoff và các đồng nghiệp đồng thời cập nhật thêm những nghiên cứu mới về mặt lý thuyết và ứng dụng của những nhà khoa học khác trong hơn 20 năm kể từ khi kỹ thuật Pinch được giới thiệu. Khi mới được giới thiệu, kỹ thuật Pinch được áp dụng rất hạn chế trong công nghiệp bởi tồn tại những ngờ vực về tính chính xác về mặt lý thuyết.
Nhưng theo D. Linnhoff [4] đã tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa kỹ thuật Pinch và định luật nhiệt động II và nhận ra rằng kỹ thuật Pinch là một hình thức của định luật nhiệt động II khi thiết kế mạng nhiệt. Qua những nghiên cứu này đã chứng minh lý thuyết của kỹ thuật Pinch được xây dựng trên một nền tảng lý thuyết vững chắc của nhiệt động lực học kỹ thuật. Không chỉ ứng dụng kỹ thuật Pinch vào tối ưu năng lượng nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu mở rộng lý thuyết này nhằm tối ưu nước và Hydrogen trong quá trình công nghiệp đặc biệt là trong công nghệ hóa dầu.
Zhang 6 [6] bằng kỹ thuật Pinch Hydrogen (dựa trên kỹ thuật Pinch năng lượng) đã đánh giá mạng Hydrogen của các nhà máy lọc dầu cụ thể từ đó nhận thấy phương pháp luận của kỹ thuật Pinch Hydrogen có khả năng tối ưu Hydrogen trong công nghiệp. Tương tự như kỹ thuật Pinch Hydrogen, kỹ thuật Pinch nước cũng được nghiên cứu và ứng dụng trong công nghiệp. Dominic Chwan Yee Foo, Zainuddin Abdul Manan, Yin Ling Tan [7], Y. Foo [8] đã ứng dụng kỹ thuật Pinch nước (dựa trên kỹ thuật Pinch năng lượng) nhằm tiết kiệm nước trong thiết kế và đánh giá hệ thống nước của các quy trình công nghệ.
Khi nghiên cứu lựa chọn giá trị chênh lệch nhiệt độ tối thiểu trong toàn hệ thống (∆𝑇𝑚𝑖𝑛 ) tối ưu với mục tiêu giảm chi phí sản xuất theo kỹ thuật Pinch, M. Akbarnia [9] đã đưa thêm chi phí đường ống vào đồ thị chi phí tổng. Kết quả nhận được là giá trị ∆𝑇𝑚𝑖𝑛 thay đổi. Nghiên cứu này đã bổ sung thêm cho lý thuyết kỹ thuật Pinch khi lựa chọn giá trị ∆𝑇𝑚𝑖𝑛 tối ưu.
Kỹ thuật Pinch không chỉ được áp dụng khi thiết kế mạng nhiệt mà còn được dùng để kiểm tra những mạng nhiệt đang hoạt động và từ đó nhận biết những lỗi khi thiết kế. Nhằm thuận tiện cho quá trình kiểm tra những lỗi của mạng nhiệt, Gadalla, M.