Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG VĂN HÓA TÔ CHỊ VAN HOA 1. 'Đã có rất nhiều các tí hức, các quốc gia và các chuyên gia nghiên cứu về văn ¡ niệm về văn hoá và các vấn đề n quan, và hiện tại chưa có một khái niệm nảo về văn hoá được thống nhất tuyệt đối. Tuy được dùng theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng suy cho cùng, khái niệm văn hóa bao giờ cũng có thể quy về hai cách hiểu chính: theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng.
~ Theo nghĩa hẹp, văn hóa được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều rộng, theo không gian hoặc theo thời gian. Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa được hiểu là những giá trị tỉnh hoa của nó (nếp sống văn hóa, văn hóa nghệ thuật Giới hạn theo chiéu rộng, văn hóa được dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực (văn hóa giao tiếp, văn hóa kinh doanh. tới hạn theo không gian, văn hóa được dùng, để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng (văn hóa Tây Nguyên, văn hóa Nam Bộ. Giới han theo thời gian, văn hóa được dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn (văn hóa Hoà Bình, văn hóa Đông Sơn.
[12, 20] ~ Theo nghĩa rộng, văn hóa thường được xem là bao gồm tất cả những gì do con người sáng tạo ra. [12, 20] Federico Mayor, Tổng giám đốc ƯNESCO, cho biết: “Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tỉnh vi đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, li sống và lao động. Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồng quốc. tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa họp năm 1970 tại Venise”.
[13,4] Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trình bày một quan niệm vẻ văn hoá: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm. thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.
[9, 431] 'Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các gi: ¡ vật chat va tinh thin do con ngui sing tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình. [12, 20] “Trên cơ sở phân tích các quan niệm trên có thê kết luận: Văn hóa là hệ thống những giá trị, niềm tin chủ đạo, những hiểu biết và cách suy nghĩ được chia sẻ bởi các thành viên trong một tổ chức, và được truyền đạt lại cho những thành viên mới vào tổ chức. Các đặc trưng và chức năng của văn hóa Văn hóa trước hết phải có đính hệ thống. Mọi hiện tượng.
sự kiện thuộc một nền văn hóa đều có liên quan mật thiết với nhau. Nhờ có tính hệ thống mà văn hóa, với tư cách là một đối tượng bao trùm mọi hoạt động của xã hội, thực hiện được chức năng tổ chức xã hội. Chính văn hóa thường xuyên làm tăng độ ôn định của xã hội, cung cắp cho xã hội mọi phương tiện cần thiết để đối phó với môi trường tự nhiên và xã hội của mình. Đặc trưng quan trong thứ hai của văn hóa là đính giá frị.
Văn hóa theo nghĩa đen nghĩa là “ưở thành đẹp, thành có giá trị”. Văn hóa chỉ chứa cái đẹp, chứa các giá trị. Nó là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người. Các giá trị văn hóa theo mục đích có thé chia thành giá trị vật chắt (phục vụ cho nhu cầu vật chất) và giá trị tinh hẳn (phục vụ cho nhu cầu tỉnh thần).
Theo ý nghĩa có thể chia thành giá trị sử đụng, giá tri đạo đức và giá trị thẩm mỹ (chân, thiên, mỹ). Các giá trị đạo đức và giá trị thẩm mỹ đều thuộc phạm trù giá trị tỉnh thần. Giá trị tỉnh thần còn bao gồm các tư tưởng có giá trị sử dụng (khoa học, giáo duc.), trong đó có cả bản thân cách thức sáng tao ra các giá trị mà qua kinh nghiệm ngàn đời, con người đã tích lũy được. Theo nghĩa này, văn hóa có thể được xem như một dạng hoạt động.
Tuy nhiên, tính giá trị cho phép phân biệt văn hóa với hậu quả của nó hoặc những hiện tượng phi văn hóa, loại ra những cách hiểu quá rộng, quy về văn hóa mọi hoạt động của con người. Theo thời gian có thể phân biệt các giá trị vĩnh cửu và giá trị nhất thời. Trong các giá trị nhất thời lại có thể phân biệt giá trị đã lỗi thời, giá trị hiện hành và giá trị đang hình thành. Sự phân biệt các loại giá trị theo thời gian cho phép ta có được cái nhìn biện chứng và khách quan trong việc đánh giá tính giá trị của sự vật, hiện tượng: tránh được những xu hướng cực đoan - phủ nhận sạch trơn hoặc tán dương hết lời.
Nhờ vậy mà, về mặt đồng đại, cùng một hiện tượng có thể có giá trị nhiều. hay ít tùy theo góc nhìn, theo bình diện được xem xét. Chẳng hạn, chiến tranh thuộc số những biện pháp giải quyết xung đột. Ngược lại, 6-1 , máy bay, công trình thủy điện.
trong khi đem lại lợi ích rõ rệt cho con người thì đồng thời cũng làm ô nhiễm. môi trường, mắt cân bằng sinh thái. Muốn kết luận một hiện tượng, sự vật có thuộc. phạm trù văn hóa hay không phải xem xét mối tương quan giữa mức độ "giá trị" và "phi giá trị" của chúng.
Nhờ thường xuyên xem xét các giá trị mà văn hóa thực hiện được chức năng. quan trọng thứ hai của mình là chức năng điều chỉnh xã hội, giúp cho xã hôi duy trì được trang thái cân bằng động của mình, không ngừng tự hị thiện và thích ứng với những biến đổi của môi trường nhằm tự bảo vệ để tồn tại và phát triển. Từ việc điều chỉnh xã hội, văn hóa có chức năng bộ phận là định hướng các chuẩn mực, điều chỉnh các ứng xử của con người. Từ việc điều chỉnh xã hội, văn.
hóa có chức năng phái sinh là động đực chơ sự phát triễn của xã hội. Không phải ngẫu nhiên mà ƯNESCO nhắn mạnh rằng văn hóa chiếm vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết của phát triển. Đặc trưng thứ ba của văn hóa là đính nhân sinh. Văn hóa là một hiện tượng xã hội, là sản phẩm hoạt động thực tiễn của con người.
Theo nghĩa này, văn hóa đối lập với tự nhiên: nó là cái nhân tạo, trong khi tự nhiên là cái thiên tạo. Nhưng nó không phải là sản phâm của hư vô, mà có nguồn gốc tự nhiên: văn hóa là cái tự nhiên đã được biến đổi dưới tác động của con người, là “phần giao” giữa tự nhiên và con người. Đặc trưng này cho phép phân biệt loài người sáng tạo với loài vật bản năng, phân biệt văn hóa với những giá trị tự nhiên chưa mang dấu ấn sáng tạo của con người (như các tài nguyên khoáng sản trong lòng đất). Sự tác động của con ngưi đối với tự nhiên có thể mang tính vật chất (như việc luyện quặng để chế tạo đồ.
dùng, đẽo gỗ tạc tượng) hoặc mang tính tinh zhẩn (như việc đặt tên, tạo truyền thuyết cho các cdnh quan thién nhién: vinh Ha Long, núi Ngũ Hành, hòn Vọng Phu.) Do gắn liền với con người và hoạt động của con người trong xã hội, văn hóa trở thành một công cụ giao tiếp quan trọng. Chức năng giao tiép là chức năng thứ ba của văn hóa. Nếu ngôn ngữ là hình thức của giao tiếp thì văn hóa là nội dung của nó; điều đó đúng với giao tiếp giữa các cá nhân trong một dân tộc, lại càng đúng với giao tiếp giữa những người thuộc các dân tộc khác nhau và giao tiếp giữa các nền văn hóa. Văn hóa còn có đính lịch sử.
Tính lịch sử của văn hóa thể hiện ở chỗ nó bao. giờ cũng hình thành trong một quá trình và được tích lãy qua nhiều thế hệ. Tính lich sử tạo cho văn hóa một bề dày, một chiều sâu; và chính nó buộc văn hóa thường. xuyên tự điều chỉnh, tiến hành phân loại và phân bố lại các giá trị.
Tính lịch sử của văn hóa được duy trì bằng truyền thống van héa. Truyén thống là cơ chế tích lũy và truyền đạt kinh nghiệm qua không gian và thời gian trong cộng đồng. Truyền thống văn hóa là những giá trị tương đối én định (những. kinh nghiệm tập thể) thể hiện dưới những khuôn mẫu xã hội được tích lũy và tái tạo.
trong cộng đồng người qua không gian và thời gian và được cố định hóa dưới dang ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghỉ lễ, luật pháp, dư luận. “Truyền thống văn hóa tồn tại được nhờ giáo dục. Chức năng giáo dục là chức năng quan trọng thứ tư của văn hóa. Nhưng văn hóa thực hiện chức năng giáo dục.
không chỉ bằng những giá trị đã ôn định (truyền thống), mà còn bằng cả những giá tri đang hình thành. Các giá trị đã ổn định và những giá trị đang hình thành tạo thành một hệ thống chuẩn mực mà con người hướng tới. Nhờ nó mà văn hóa đóng. vai trỏ quyết định trong việc hình thành nhân cách ở con người, trồng người (dưỡng dục nhân cách).
Một đứa trẻ sau khi ra đời nếu được sống với cha mẹ, nó sẽ được giáo dục theo truyền thống văn hóa nơi nó sinh ra, còn nếu bị rơi vào rừng, nó sẽ mang tinh cách của loài thú. Không phải ngẫu nhiên mà trong các ngôn ngữ phương. Tây, từ *văn hóa” (culture, eultura) đều có chứa một nghĩa chung là chăm sóc, giáo dục. Từ chức năng giáo dục, văn hóa có chức năng phái sinh là đấm bảo tinh kế tục của lịch sử: Nễu gien sinh học di truyền lại cho các thể hệ sau hình thể con.
người thì văn hóa là một thứ "gien" xã hội di truyền phẩm chất con người lại cho. các thế hệ mai sau. Khái niệm Khái niệm *văn hóa tổ chức” (Organization Culture) được tổng hợp từ hai khái niệm "văn hóa” và "tổ chức”. Khi kết hợp thành khái niệm *văn hóa tổ chức”, dù nghĩa đã được thu hẹp lại nhưng vẫn tổn tại nhiều định nghĩa khác nhau.