CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE PHAT TRIÊN NGUÒN NHÂN LỰC 'TRONG CÁC TÔ CHỨC 1. TONG QUAN VE PHAT TRIEN NGUÒN NHÂN LỰC 1. Một số khái niệm cơ bản a. Nhân lực Trước khi nghiên cứu khái niệm nhân lực, ta đi nghiên cứu những khái niệm của các nhà nghiên cứu trên nhiều phương diện, nhiều góc độ khác nhau.Mác: “Nhân lực là toàn bộ những năng lực thê chất (thẻ lực) và tỉnh thần (trí lực) tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó".
Như vậy, Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi người bao gồm cả thé lực và trí lực. Thê lực là sức khỏe của con người thể hiện qua sức vóc, cân nặng và tình trạng sức khỏe của từng người. Trí lực là chỉ tư duy, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin. của mỗi người [29].
Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, việc xây dựng nguồn nhân lực không chỉ dừng lại ở hai chỉ tiêu trên mà còn quan tâm nhiều đến nhân cách của con người, đó là phẩm chát, đạo đức nghề nghiệp, tính sáng tạo, khả năng. thích ứng, tỉnh thần thái độ làm việc, có thể đáp ứng các môi trường nếu chuyển đổi, Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Nhân lực là nhân cách, thể chất, phẩm chất, năng lực của con người nhưng không phải có sẵn mà là do tu dưỡng, rèn luyện, qua quá trình được giáo dục và tự giáo dục” [24]. Như vậy, có thể hiểu một cách khái quát, “nhân lực là nguồn lực bao gôm thể lực, trí lực và nhân cách của mỗi người, nó phản ánh sự tham gia và đóng góp của 10 con người vào hoạt động sản xuất nhằm sản xuất ra giá trị sử dụng nào đó cho con người ”. Nguồn nhân lực Từ những năm đầu thập niên §0 của thế kỷ XX đã đánh dấu những thay đổi trong phương thức quản lý và sử dụng con người.
Từ chỗ xem con người là lực lượng thừa hành nhằm khai thác tối đa sức lao động với một chỉ phí tối thiểu để mang lại hiệu quả, các nhà quản lý đã chuyền sang các phương thức quản lý mềm dẻo, linh hoạt hơn, tạo điều kiện để người lao động phát huy tối đa khả năng vốn có của họ trên cơ sở sang tạo, chủ động. Từ đó đến nay, đã quan niệm, định nghĩa về nguồn nhân lực, cụ thể: Nguồn nhân lực được định nghĩa là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có trong thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng (Định nghĩa của Liên Hợp Quốc) [22] Nguồn lực con người có vai trò quyết định, quý báu và đặc biệt đối với nhà nước khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp; nó được thê hiện qua người lao động có phẩm chất t đẹp, được đào tạo, tuệ cao, tay nghề thành thạo và phát huy bởi nền giáo dục tiên một nền khoa học hiện đại [34] (Theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam). Hoặc Theo TS. Nguyễn Hữu Dũng nghiên cứu dưới hai góc độ năng lực xã hội và tính năng động xã hội: Tại góc độ thứ nhất, NNL là nguồn lực lao động chính của xã hội, là người tạo ra cơ sở vật chất, giá trị tỉnh thần cho xã hội, giúp phát triển xã hội và nâng cao năng lực hoạt động xã hội.
Tại góc độ thứ hai: Không chỉ dừng lại ở dạng tiềm năng xã hội mà NNL còn là nguồn lực chính trong việc xây dựng thẻ chế, theo hướng phát triển tư duy của con người, xây dựng thông qua chính sách và giải phóng triệt 1I để tiềm năng con người. NNL được tự do phát triển, tự do sáng tạo và cống hiến, được trả đúng giá trị lao động và được khai thác phát huy trở thành nguồn vốn vô cùng to lớn. Từ đó ta có thể hiểu xem xét dưới nhiều góc độ: Nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội; là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất giữ vị trí hàng đầu, là nguồn lực cơ bản và nguồn lực vô tận của sự phát triển của xã hội; là sự tổng hợp của cả số lượng và chất lượng; nó không chỉ là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động mà là các thế hệ con người với những tiềm năng, sức mạnh trong cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội. Như vậy, có thể định nghĩa: “Nguồn nhân lực là tổng thể số lượng và chất lượng con người với tổng hoà các tiêu chí vẻ trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức - tỉnh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người, xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, địa phương " [30].
Nguồn nhân lực trong cơ quan hành chính Nhà nước Nguồn nhân lực hành chính Nhà nước Việt Nam là hệ thống cán bộ. công chức làm trong hệ thóng bộ máy hành chính Nhà nước. Có thể nói NNL HC là tổng thể số lượng và chất lượng con người với tông hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức - tinh thần của con người được tuyển dụng, tiếp nhận, bó trí vào làm trong hệ thống bộ máy hành chính Nhà nước. Nó được xem là tiềm năng lao động của con người (bao gồm: Vốn kiến thức, kỹ năng làm việc, trình độ chuyên môn, đặc điểm tâm lý, các mối quan hệ.) được sử dụng trong quá trình làm việc.
Nếu tiềm năng đó được sử dụng và quản lý đúng đắn sẽ trở thành khả năng hiện thực và góp phần giải quyết các vẫn đề xã hội, phát triển kinh tế. Ở nước ta hiện nay, nguồn nhân lực hành chính bao gồm toàn bộ cán bộ, công chức từ cấp trung ương đến địa phương được cơ quan hành chính 12 Nhà nước Việt Nam sử dụng để thực thi chức năng hành pháp của Nhà nước trên phạm vi toàn quốc. Cơ quan hành chính nhà nước Việt Nam, bao gồm: ~ Cơ quan hành chính Nhà nước ở cấp trung ương: Gồm Chính phi, 18 Bộ và 04 cơ quan ngang Bộ): ~ UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: là các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh được tổ chức theo Nghị định 24/2014/NĐ-CP, bao gồm: các Sở, ban, ngành, cục (15 cơ quan chuyên môn tô chức thống nhất, riêng Sở Ngoại vụ có tỉnh có có tỉnh không và Thanh tra tỉnh, Văn phòng Ủy ban Nhân dân tỉnh). ~ UBND huyện, quận, thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã: là các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban Nhân dân cấp huyện được tổ chức theo Nghị định 14/2008/NĐ-CP, bao gồm: các phòng, chi cục (có 10 cơ quan chuyên môn tổ chức thống nhất và 04 cơ quan chuyên môn tùy từng địa phương có thể theo.
đặc điểm đặc thù đề thành lập thêm) và Thanh tra tỉnh, Văn phòng HĐND và Ủy ban Nhân dân cấp huyện). - UBND xã, phường, thị trấn: là cơ quan địa phương cấp xã tổ chức theo Nghị định số 112/2011/NĐ-CP, Nghị định số 92/2009/NĐ-CP và Nghị định 34/2019/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 112/2011/NĐ-CP, không có cơ quan chuyên môn, song có chức danh chuyên môn sau đây: Trưởng Công an, Chỉ huy trưởng Quân sự, Văn phòng - Thống kê, Địa chính - Xây dựng, Tài chính - Kế toán, Tư pháp - Hộ hóa - Xã hội [19]. Nguồn nhân lực trong cơ quan hành chính Nhà nước cấp xã là một bộ. phận nhân lực trong hệ thống các cơ quan quản lý HCNN thấp nhất của địa phương, gồm những người có sức khỏe, có trình độ học vấn và trình độ chuyên môn, có năng lực công tác tốt, có phẩm chất đạo đức công vụ, luôn 13 chủ động học tập nâng cao trình độ chuyên môn, chủ động trong hội nhập để hoàn thiện mình và góp phần hiện đại hoá nền hành chính”.
Theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008 khá iệm cán bộ (có cán bộ cấp huyện, cắp tỉnh, cấp trung ương, cán bộ cấp xã) và khái niệm công chức (gồm. cả công chức cấp xã)[20] *%Cán bộ được hiểu là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [20]. “Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) được hiểu là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [20] * Đối với cán bộ cấp xã (xã, phường, thị trắn) gồm có các chức vụ sau đây: - Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy. ~ Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân.
- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hị lồng nhân dân. ~ Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. - Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. ~ Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.
- Chủ tịch Hộ ưu chiến binh Việt Nam. 14 - Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị tran có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam) [20].