CHƯƠNG 1: HIỆU QUẢ CHO VAY VỐN TÍN DỤNG ĐẦU TƯ CỦA NHÀ NƯỚC 1.1 Cho vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước 1.1 Một số vấn đề cơ bản về đầu tư phát triển 1.1 Khái niệm đầu tư phát triển Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi dùng vốn trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm tạo ra những tài sản vật chất và tài sản trí tuệ, gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển.2 Vai trò của đầu tư phát triển i) Tác động đến tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế; ii) Thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế; iii) Phát triển khoa học công nghệ.3 Vốn cho đầu tư phát triển Vốn đầu tư phát triển là các nguồn tích luỹ, tập trung và phân phối cho đầu iii tư. Vốn đầu tư phát triển bao gồm nhiều loại, được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó có vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước.2 Tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước 1.1 Khái niệm Tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là sự hỗ trợ của Nhà nước thông qua các hình thức tín dụng để tài trợ đầu tư các dự án thuộc lĩnh vực được Nhà nước khuyến khích phát triển.2 Các hình thức tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước Tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước bao gồm các hình thức: Cho vay đầu tư, bảo lãnh tín dụng đầu tư và hỗ trợ lãi suất sau đầu tư. Cơ quan thực hiện tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước Hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước thường được giao cho một tổ chức thực hiện. Đa số các nước trên thế giới đều thành lập một tổ chức độc lập, hoạt động như một trung gian tài chính để thực hiện nhiệm vụ này với tên gọi phổ biến là “Ngân hàng phát triển” (Development banks).
Đặc điểm của hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước i) Tập trung vào các dự án phát triển được Nhà nước khuyến khích; ii) Chỉ tài trợ cho các dự án nằm trong các mục tiêu ưu tiên của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đất nước; iii) Không cạnh tranh với hoạt động của các NHTM, đối xử bình đẳng giữa các thành phần kinh tế; iv) Không vì mục đích lợi nhuận, lãi suất cho vay thấp hơn lãi suất thị trường; v) Một chủ thể trong quan hệ tín dụng này luôn là Nhà nước; vi) Là công cụ để điều tiết vĩ mô nền kinh tế; vii) Tập trung tài trợ cho đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng kinh tế - xã hội; viii) Được Chính phủ hỗ trợ về nguồn vốn; ix) Tín dụng có quy mô vốn lớn, thời hạn dài; x) Là một phạm trù kinh tế có tính lịch sử.3 Cho vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước ở Việt Nam Theo Nghị định của Chính phủ số 151/2006/NĐ-CP ngày 20-12-2006, các hình thức cho vay đầu tư bao gồm: i) Cho vay các dự án đầu tư trong nước; ii) Cho iv vay các dự án đầu tư ra nước ngoài. Tuy nhiên, cho vay các dự án đầu tư trong nước là đối tượng nghiên cứu của đề tài. Đối tượng cho vay theo danh mục được Chính phủ ban hành và điều chỉnh trong từng thời kỳ; chủ đầu tư phải đáp ứng các điều kiện theo quy định; mức vốn cho vay tối đa không vượt quá 70% tổng vốn đầu tư TSCĐ của dự án; thời hạn cho vay không quá 12 năm; một số dự án đặc thù thời hạn cho vay tối đa là 15 năm; lãi suất cho vay đồng Việt Nam bằng lãi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 5 năm cộng 0,5%/năm; một số dự án đặc thù thì lãi suất cho vay bằng lãi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 5 năm; lãi suất cho vay bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi do Bộ Tài chính quyết định trên cơ sở lãi suất Sibor 6 tháng cộng tỷ lệ %.2 Hiệu quả cho vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước 1.1 Khái niệm Hiệu quả là một phạm trù khoa học phản ánh quan hệ so sánh giữa kết quả và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó; hiệu quả cho vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước thể hiện trên các giác độ: i) Đối với nền kinh tế quốc dân; ii) Đối với ngân hàng phát triển; iii) Đối với doanh nghiệp.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước 1. Hiệu quả đối với nền kinh tế quốc dân i) Đáp ứng nhu cầu vốn ĐTPT, thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế; ii) Tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế; iii) Phát triển thị trường vốn, góp phần phát triển các vùng miền, các ngành nghề, lĩnh vực kinh tế; iv) Phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, tăng thu cho NSNN, thúc đẩy xuất khẩu; v) Tạo công ăn việc làm, xóa đói, giảm nghèo.
Hiệu quả đối với VDB Hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, nên có thể sử dụng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đối với VDB như sau: v Hệ số an toàn vốn (CAR) Vốn chủ sở hữu CAR = Tổng tài sản “có” rủi ro Tỷ lệ nợ quá hạn Nợ quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn = Tổng dư nợ Tỷ lệ nợ khó đòi1 Nợ khó đòi Tỷ lệ nợ khó đòi = Tổng dư nợ Tỷ lệ xóa nợ Số nợ phải xóa Tỷ lệ xóa nợ = Tổng dư nợ Hệ số lãi suất bình quân cho vay trên huy động LSCV bình quân Hệ số LS bình quân cho vay trên huy động = LSHĐ bình quân Chênh lệch về kỳ hạn trung bình giữa vốn huy động và cho vay = Kỳ hạn trung bình của VHĐ - kỳ hạn trung bình của VCV Tỷ lệ trích lập Quỹ dự phòng rủi ro Số vốn trích lập Quỹ DPRR Tỷ lệ trích lập Quỹ DPRR = Dư nợ bình quân So sánh với các ngân hàng, tổ chức tín dụng khác trên thị trường và xem xét ý kiến đánh giá của khách hàng 1. Hiệu quả đối với doanh nghiệp - các tổ chức thụ hưởng i) Xem xét mức độ lãi lỗ của dự án, doanh nghiệp. ii) Khả năng mở rộng sản xuất và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. 1 Nợ khó đòi là một phần của nợ quá hạn, song có mức nguy hiểm cao hơn.
Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả cho vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước 1. Các nhân tố khách quan 1. Môi trường chính trị Trong điều kiện môi trường chính trị xấu, hoạt động tín dụng đầu tư của Nhà nước sẽ bị ảnh hưởng từ khâu hoạch định chính sách cho đến tổ chức thực hiện; các doanh nghiệp cũng không thể tập trung vào đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh; hệ thống phân phối bị gián đoạn, cung cấp nguyên vật liệu bị ngưng trệ làm giảm sút hiệu quả hoạt động dẫn đến đình trệ, phá sản các dự án, doanh nghiệp, làm gia tăng nợ xấu, gây rủi ro đối với vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước. Môi trường pháp lý Một môi trường pháp lý đồng bộ, đầy đủ, thống nhất và ổn định sẽ tác dụng rất lớn tới hoạt động của nền kinh tế nói chung và hoạt động cho vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước nói riêng.
Môi trường kinh tế - xã hội Môi trường kinh tế - xã hội là tổng hoà các mối quan hệ về kinh tế và xã hội tác động lên hoạt động của mọi chủ thể. Môi trường kinh tế - xã hội ổn định sẽ tạo điều kiện cho lưu thông hàng hoá, thúc đẩy sản xuất phát triển, do đó hoạt động tín dụng sẽ thuận lợi hơn. Nhu cầu đầu tư phát triển của các doanh nghiệp Đây là yếu tố quyết định nhu cầu vay vốn đầu tư, nhu cầu đó càng lớn thì càng có điều kiện phát triển cho vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước. Nhu cầu này sẽ mở rộng trong cộng đồng các doanh nghiệp và dễ trở thành hiện thực khi môi trường đầu tư thuận lợi và có nhiều cơ hội kinh doanh nảy sinh.
Khả năng đáp ứng các điều kiện tín dụng của doanh nghiệp Khả năng đáp ứng của doanh nghiệp đối với các điều kiện tín dụng gồm: i) Năng lực thị trường của doanh nghiệp; ii) Năng lực sản xuất của doanh nghiệp; iii) vii Năng lực tài chính của doanh nghiệp; iv) Năng lực tổ chức, quản lý của doanh nghiệp; v) Quyền sở hữu tài sản và khả năng đáp ứng yêu cầu về bảo đảm tiền vay; vi) Sự đáp ứng của dự án đối với các tiêu chuẩn tín dụng; vii) Chất lượng nghiên cứu dự án khả thi. Các nhân tố chủ quan 1. Tổ chức bộ máy và quy trình nghiệp vụ Hoạt động cho vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước có triển khai được thuận lợi và thành công hay không, phụ thuộc vào tổ chức bộ máy, thủ tục hành chính và quy trình nghiệp vụ. Trong đó, đặc biệt quan trọng là quy trình nghiệp vụ.
Năng lực thẩm định và quản lý tín dụng Năng lực thẩm định tốt sẽ bảo đảm sự an toàn về nguồn vốn tài trợ cho các dự án và ngược lại; giám sát tín dụng nhằm đạt chất lượng tín dụng như dự kiến ban đầu, hạn chế xảy ra các rủi ro nảy sinh trong quan hệ tín dụng. Chính sách tín dụng Chính sách tín dụng là các quy định cơ bản của ngân hàng về lãi suất, quản lý và giám sát tín dụng cũng như các điều kiện về bảo đảm tiền vay, hạn mức tín dụng, thời hạn vay… 1. Chính sách nguồn vốn Nếu chính sách huy động và điều hành vốn hợp lý sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng huy động đủ vốn và ngược lại. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ CHO VAY VỐN TÍN DỤNG ĐẦU TƯ CỦA NHÀ NƯỚC TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 2.
Cho vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước ở Việt Nam 2. Chính sách cho vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước 2. Giai đoạn trước năm 2000 Sự tài trợ của Nhà nước từ những năm 60 cho tới đầu những năm 90 được viii thực hiện chủ yếu dưới dạng cấp phát vốn tại Ngân hàng Kiến thiết. Bắt đầu từ năm 1994, Tổng cục Đầu tư phát triển được thành lập, theo đó việc tài trợ không những có thu hồi vốn mà còn tính lãi.
Giai đoạn 2000 - 2008 Tháng 6/1999, Chính phủ ban hành Nghị định số 43/1999/NĐ-CP về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước.