Chương 1: Cơ sở lý luận về nghèo và giảm nghèo. Chương 2: Thực trạng nghèo và công tác giảm nghèo ở quận Liên Chiểu trong thời gian qua. Chương 3: Một số giải pháp giảm nghèo ở quận Liên Chiều trong thời gian đến. Tổng quan tài liệu Từ khi lịch sử phát triển xã hội của loài người có sự phân chia giai cấp, vấn đề phân biệt giàu nghèo đã xuất hiện và cho đến nay vẫn đang tồn tại như một thách thức lớn đối với sự phát triển bền vững của từng quốc bộ nền văn minh hiện đại của nhân loại.
Mục tiêu xóa đói giảm nghèo luôn được đặt ra trong qúa trình phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia trên thế giới và tại Việt Nam. Chính vì thế trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều đề tài, luận văn đề cập đế: lày. Đồng thời, còn có nhiều công trình khoa học khác nghiên cứu vấn đề xóa đói giảm nghèo ở nhiều khía cạnh khác nhau. Có thê khăng định, các công trình nghiên cứu về nghèo đói và xóa đói giảm nghèo ở nước ta là rất phong phú.
Thành quả của những công trình đó đã cung cấp những luận cứ khoa học, thực tiễn cho việc xây dựng, triển khai công tác xóa đói giảm nghèo trên toàn quốc và từng địa phương. Có thể lược khảo một số công trình như: - Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI khẳng định: “Tập frung triển khai các chương trình xóa đói giảm nghèo ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Da dạng hóa các nguồn lực và phương thức xóa đói giảm nghèo gắn với phát triển nông nghiệp, nông thôn, phát triển giáo dục, dạy nghề và giải quyết việc làm để xóa đói giảm nghèo bền vững; tạo điều kiện và khuyến khích người đã thoát nghèo vươn lên làm giàu và giúp đờ người khác thoát nghèo ”. - Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, 7 duy phát triển hiện đại: Một số vấn đề lý thuyết và thực tiễn,Nxb khoa học xã hội, Hà Nội 2003.
Cuốn sách bao gồm những bài nghiên cứu, thảo luận của các học giả nỗi tiếng thế giới về những vấn đề lý thuyết và thực tiễn phát triển. Cuốn sách biên dịch các công trình nghiên cứu thực tiễn, những lựa chọn chính sách nhằm cải thiện tốc độ và chất lượng của quá trình phát tr - PGS-TS Bui Quang Bình, Giáo trình Kinh tế phát triển, Nxb thông tin và truyền thông, 2012. Có nội dung “Phát triển và phúc lợi cho con người”, theo đó đã có nhiều nội dung lý thuyết cũng như thực tiễn về phân phối thu nhập, đánh giá tình trạng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập và các lý thuyết về sự bất bình đăng và nghèo khổ. Lê Xuân Bá (cùng tập thể tác giả), Nghèo đói và xóa đói giảm nghèo.
ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, 2001. Các tác giả đã phản ánh tổng quan về nghèo đói trên thế giới; đưa ra các phương pháp đành giá về nghèo đói hiện nay, nghèo đói ở Việt Nam và nghiên cứu thực tiễn về nghèo đói ở Quang Bình. Qua đó đưa ra một số quan điểm, giải pháp chung về xóa đói giảm nghèo. - Uỷ ban nhân dân thành phó Đà Nẵng (2012), quyết định số 10081/QĐ- UBND về Ban hành đề án giảm nghèo trên địa bàn thành ph giai đoạn 2013- 2017, Đà Nẵng.
Nội dung đề án đã nêu được một cách tổng quát tình hình, thực trạng nghèo và công tác giảm nghèo của thành phố giai đoạn 2009-2012 cũng như những phương hướng, giải pháp giảm nghèo của thành phố giai đoạn 2013- 2017. - Các văn bản nghị quyết của Quận ủy, đề án, kế hoạch, báo cáo tông kết từng năm, từng giai đoạn của UBND Quận Liên Chiểu đã có nhiều nội dung nêu được thực trạng, quá trình tổ chức thực hiện và kết quả công tác giảm nghèo trên địa bàn quận. Đồng thời đã đề ra nhưng giải pháp, mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể về công tác giảm nghèo cho từng năm. Đây là cơ sở để tạo nền số liệu cũng như định hướng phù hợp cho mục tiêu của đề tài này.
~ Nguyễn Văn Cảnh, Xóa đói giảm nghèo trên địa bàn Tỉnh Kiên Giang, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, 2008. Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, quán triệt các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xoá đói, giảm nghèo, tiếp thu có chọn lọc các quan điểm của Ngân hàng Thế giới và kinh nghiệm của địa phương khác dé xem xét các vấn đề đói nghèo của Kiên Giang. ~ Nguyễn Đăng Hiệp, Thực trạng xóa đói giảm nghèo ở Huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, kinh nghiệm và giải pháp, Trường Đại học kinh tế quốc dân, 2007. Tác giả đã chọn phương pháp nghên cứu tổng quát bao gofm quan điểm duy vật biện chứng duy vật lịch sử để tháy rõ các hiện tượng kinh tế - xã hội trong trạng thái vận động và có các mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
phép phân tích, đánh giá một cách khách quan các vấn đề nghiên cứu như cơ cấu kinh tế của địa phương, cơ sở vật chất kỹ thuật có ảnh hưởng đến cơ cấu. Cơ sở vật chất liên quan trực tiếp và gián tiếp đến Xóa đói giảm. Mặc dù có nhiều dự án và nghiên cứu về vấn đề XĐGN nhưng đối với quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng chưa có một nghiên cứu cụ thể nào về vấn đề này. Cũng có các báo cáo đánh giá hàng năm, tông kết đánh giá từng.
Tuy nhiên cũng chỉ dừng lại ở mức báo cáo thống kê, đánh giá. Quận Liên Chiểu là một quận của thành phố Đà Nẵng nên công tác giảm nghèo mang tính bức xúc và được cấp ủy Đảng, chính quyền từ quận đến các phường cũng như người dân đặc biệt quan tâm. Việc lưa chọn đề tài giải pháp giảm nghèo ở quận Liên Chiểu càng làm tăng thêm tính thiết thực trong. giai đoạn hiện nay.
CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE NGHEO VÀ GIAM NGHEO 1. NHUNG VAN DE CHUNG VE NGHEO VA GIAM NGHEO 1. Những vấn đề chung về nghèo 4œ. Quan niệm về nghèo ~ Quan niệm trên thế giới Tình trạng đói nghèo ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau về cấp độ và số lượng.
Người nghèo của quốc gia này có thể có mức sống cao hơn mức sống trung bình của các quốc gia khác. Bởi vậy để nhìn nhận và đánh giá đúng tình trạng đói nghèo của một quốc gia, một vùng cũng như nhận dạng được hộ nghèo, đòi hỏi phải có sự thống nhất về khái niệm và các tiêu chí để đánh giá nghèo tại từng thời điểm. Phải khẳng định một điều rằng hiện nay chưa có định nghĩa duy nhất về nghèo và chưa có một sự thống nhất tuyệt đối trong quan niệm về nghèo bởi vì quá trình nhận thức về nghèo của con người ngày càng đa dạng và phong. phú, không những thế, bản thân của người nghèo cũng thay đổi rất nhanh chóng trong suốt các thập kỷ qua.
Để xây dựng các chủ trương, giải pháp XĐGN cần phải có các quan niệm đúng về đói nghèo và có sự thống nhất tương đối chung cho các quốc. gia về các khái niệm nghèo đói. Nếu có sự khác nhau giữa các quốc gia thì đó chỉ là sự khác nhau về cách tiếp cận, chứ không phải khác nhau về bản chất của nghèo đói Thực tế, thế giới thường dùng khái niệm nghèo khổ mà không dùng khái niệm đói nghèo như ở Việt Nam và nhận định nghèo khổ theo bón khía cạnh là thời gian, không gian, giới và môi trường. - Về thời gian: Phần lớn người nghèo khổ là những người có mức sống dưới mức "chuẩn" trong một thời gian dài, cũng có một số người nghèo khổ tình thế như những người thất nghiệp, những người mới nghèo do suy thoái kinh tế hoặc thiên tai địch họa, tệ nạn xã hội, rủi ro - Về không gian: Nghèo đói diễn ra chủ yếu ở nông thôn, nơi có phần lớn dân số sinh sống.
Tuy nhiên, tình trạng đói nghèo ở thành thị, trước hết ở các nước đang phát triển cũng có xu hướng gia tăng. - Về giới: Người nghèo là phụ nữ đông hơn nam giới, nhiều hộ gia đình nghèo nhất do nữ giới là chủ hộ. Trong các hộ nghèo đói do đàn ông làm chủ thì người phụ nữ vẫn khô hơn nam giới. - Về môi trường: Phần lớn người thuộc diện đói, nghèo đều sống ở những vùng khắc nghiệt mà ở đó tình trạng đói nghèo và xuống cấp của môi trường đều đang ngày càng trầm trọng thêm.
Từ nhận dạng và tình hình trên Liên hiệp quốc đưa ra hai khái niệm chính về đói nghèo: Nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. + Nghèo tuyệt đói: Là bộ phận dân cư không được hưởng đây đủ những nhu cầu cơ bản tối thiểu, những nhu cầu cơ bản đó là những đảm bảo tối thiểu. về ăn, mặc, ở, giao tiếp xã hội, vệ sinh, y tế và giáo dục. + Nghèo tương đối: Là bộ phận dân cư được hưởng những nhu cầu cơ bản tối thiểu để duy trì cuộc sống.
Tuỳ mức độ đảm bảo nhu cầu tối thiểu mà sự nghèo khô của dân cư được chia thành nghèo và rất nghèo, hoặc nghèo bậc 1, bậc 2. Có khá nhiều khái niệm khác nhau về nghèo đói, tuỳ thuộc vào cách tiếp cận, thời gian nghiên cứu và sự phát triển kinh tế của một quốc gia mà có những khái niệm khác nhau về nghèo đói. Theo quan điểm của Tổ chức Liên Hợp quốc (UN): Người nghèo là những người có thu nhập dưới đường ranh giới nghèo, được xác định bằng số tiền cho. 10 nhu cầu thiết yếu về ăn, mặc, ở,.mà trước mắt là lương thực, thực phẩm để duy trì sự sống với mức tiêu dùng nhiệt lượng 2.300 Calo/người/ngày.
Khái niệm về đói nghèo được nêu ra tại Hội nghị bàn về xoá đói, giảm nghèo ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP (Uỷ ban kinh tế và xã hội của Châu Á-Thái Bình Dương) tổ chức tại Băng Cốc tháng 9/1993 cũng đáng được chú ý. Hội nghị này cho rằng: “Aghẻo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoá mãn những nhu câu cơ bản của con người, mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận". Đây là khái niệm tương đối đầy đủ và bao quát, nên có thể coi đây là khái niệm chung nhất và có tính hướng dẫn về phương pháp nhận diện nét chính yếu phổ ề đói nghèo của các quốc gia.