Luận văn thạc sĩ kinh tế đo lường mức độ hài hoà các quy định về tài sản cố định vô hình giữa chuẩn mực kế toán việt nam và chuẩn mực kế toán quốc tế

Luận văn Thạc sĩ Kinh tế so sánh, đo lường mức độ hài hòa quy định tài sản cố định vô hình giữa VAS và IFRS. Nghiên cứu ảnh hưởng, đề xuất giải pháp.

Chuyên ngành

Kế Toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2017

127
12
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về tài sản cố định vô hình

Tài sản cố định vô hình là một loại tài sản không có hình thái vật lý nhưng vẫn mang lại giá trị cho doanh nghiệp. Trong kế toán, tài sản này được phân loại và ghi nhận theo các quy định khác nhau giữa kế toán Việt Nam và quốc tế. Việc hiểu rõ về tài sản cố định vô hình là rất quan trọng để đảm bảo tính chính xác trong báo cáo tài chính. Theo quy định kế toán quốc tế (IAS 38), tài sản cố định vô hình phải được ghi nhận khi có khả năng tạo ra lợi ích kinh tế trong tương lai. Ngược lại, kế toán Việt Nam (VAS 04) cũng có những quy định tương tự nhưng có sự khác biệt trong cách phân loại và ghi nhận. Sự khác biệt này có thể ảnh hưởng đến việc đánh giá tài sản và báo cáo tài chính của doanh nghiệp.

1.1. Định nghĩa và phân loại tài sản cố định vô hình

Tài sản cố định vô hình bao gồm các tài sản như thương hiệu, bản quyền, và bằng sáng chế. Việc phân loại tài sản cố định vô hình là cần thiết để xác định cách thức ghi nhận và đánh giá tài sản này trong báo cáo tài chính. Theo chuẩn mực quốc tế, tài sản vô hình được chia thành hai loại: tài sản vô hình có thời hạn sử dụng xác định và tài sản vô hình không có thời hạn sử dụng xác định. Trong khi đó, kế toán Việt Nam cũng áp dụng các tiêu chí tương tự nhưng có những quy định cụ thể hơn về cách thức đo lường và báo cáo tài sản vô hình. Sự khác biệt này có thể dẫn đến những khó khăn trong việc so sánh báo cáo tài chính giữa các quốc gia.

II. So sánh quy định kế toán giữa Việt Nam và quốc tế

Quy định kế toán về tài sản cố định vô hình giữa kế toán Việt Nam và quốc tế có những điểm tương đồng và khác biệt rõ ràng. Cả hai hệ thống đều yêu cầu ghi nhận tài sản cố định vô hình khi đáp ứng các tiêu chí nhất định. Tuy nhiên, quy định về thời gian khấu hao và phương pháp đánh giá lại tài sản có sự khác biệt. Trong kế toán quốc tế, tài sản vô hình có thể không bị khấu hao nếu nó có thời hạn sử dụng không xác định, trong khi kế toán Việt Nam yêu cầu khấu hao tài sản vô hình theo thời gian sử dụng dự kiến. Điều này có thể dẫn đến sự khác biệt trong báo cáo tài chính và ảnh hưởng đến quyết định của các nhà đầu tư.

2.1. Quy định về ghi nhận tài sản cố định vô hình

Quy định ghi nhận tài sản cố định vô hình trong kế toán quốc tế yêu cầu rằng tài sản phải được ghi nhận khi có khả năng tạo ra lợi ích kinh tế trong tương lai. Điều này tương tự với quy định của kế toán Việt Nam, nhưng có sự khác biệt trong cách thức ghi nhận và đánh giá. Kế toán quốc tế cho phép doanh nghiệp tự quyết định phương pháp ghi nhận, trong khi kế toán Việt Nam yêu cầu tuân thủ nghiêm ngặt các quy định cụ thể. Sự khác biệt này có thể tạo ra khó khăn trong việc áp dụng quy định và làm giảm tính minh bạch trong báo cáo tài chính.

III. Đánh giá mức độ hài hòa giữa quy định Việt Nam và quốc tế

Việc đánh giá mức độ hài hòa giữa quy định về tài sản cố định vô hình giữa kế toán Việt Nam và quốc tế là rất cần thiết để xác định những khoảng cách còn tồn tại. Nghiên cứu cho thấy rằng mức độ hài hòa giữa VAS và IAS/IFRS về tài sản cố định vô hình chưa đạt yêu cầu, với mức độ hài hòa chỉ khoảng 57%. Điều này cho thấy rằng vẫn còn nhiều công việc cần làm để cải thiện quy định kế toán tại Việt Nam nhằm đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng việc cải thiện mức độ hài hòa này không chỉ giúp doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc báo cáo tài chính mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút đầu tư nước ngoài.

3.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hài hòa

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hài hòa giữa quy định kế toán Việt Nam và quốc tế. Một trong những yếu tố chính là sự khác biệt về điều kiện kinh tế và văn hóa giữa hai hệ thống. Việt Nam có nhiều quy định đặc thù phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của đất nước, điều này có thể dẫn đến sự khác biệt trong cách thức áp dụng quy định kế toán. Ngoài ra, việc đào tạo và nâng cao nhận thức về chuẩn mực kế toán quốc tế cũng đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện mức độ hài hòa này. Các doanh nghiệp cần được trang bị kiến thức và kỹ năng cần thiết để áp dụng các quy định một cách hiệu quả.

IV. Kiến nghị nhằm nâng cao mức độ hài hòa

Để nâng cao mức độ hài hòa giữa quy định về tài sản cố định vô hình giữa kế toán Việt Nam và quốc tế, cần có những kiến nghị cụ thể. Đầu tiên, việc cải thiện quy định kế toán cần được thực hiện thông qua việc nghiên cứu và áp dụng các chuẩn mực quốc tế một cách linh hoạt. Thứ hai, cần tăng cường công tác đào tạo cho các kế toán viên và nhân viên tài chính về quy định kế toán quốc tế. Cuối cùng, việc xây dựng một khung pháp lý rõ ràng và minh bạch cho hoạt động kế toán sẽ giúp doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc áp dụng quy định và cải thiện tính chính xác trong báo cáo tài chính.

4.1. Đề xuất cải cách quy định kế toán

Đề xuất cải cách quy định kế toán cần tập trung vào việc điều chỉnh các quy định hiện hành để phù hợp hơn với chuẩn mực quốc tế. Cần xem xét lại các quy định về khấu hao tài sản cố định vô hình và tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể tự quyết định phương pháp ghi nhận tài sản. Điều này không chỉ giúp tăng tính linh hoạt trong hoạt động kế toán mà còn cải thiện tính minh bạch trong báo cáo tài chính. Ngoài ra, việc tăng cường hợp tác giữa các cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp cũng sẽ giúp cải thiện quy định kế toán một cách hiệu quả.

16/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1: Chương này trình bày các nghiên cứu về mức độ hài hoà giữa CMKT Việt Nam và quốc tế bằng nhiều phương pháp nhau, từ đó các tác giả đã đưa ra những đánh giá về sự hài hoà giữa các CMKT Việt Nam và quốc tế ở mức độ tổng thể hoặc một khía cạnh của vấn đề nghiên cứu. Đồng thời qua chương này tác giả đã đưa ra những nhận xét về các nguyên cứu trước và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ HÀI HOÀ CÁC QUY ĐỊNH VỀ TÀI SẢN VÔ HÌNH GIỮA CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VIỆT NAM VÀ CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ 2.1 Khái niệm về hài hoà Sự phát triển theo hướng quốc tế hoá các chuẩn mực kế toán là hết sức cần thiết nhằm tạo ra ngôn ngữ chung và sân chơi đạt tiêu chuẩn sẽ làm tăng hiệu quả thị trường thế giới và tăng khả năng hợp tác tìm kiếm vốn góp, tăng phần cạnh tranh có hiệu quả. Chính vì thế hài hoà chuẩn mực kế toán có mục đích hướng tới một chuẩn mực chung, một nguyên tắc chung trên toán thế giới.

Hài hoà chuẩn mực kế toán quốc tế là quá trình gia tăng mức độ thống nhất trong CMKT và thực tế giữa các quốc gia, cho phép giảm sự khác biệt về kế toán giữa các quốc gia và gia tăng sự linh hoạt trong thực tế (NCS Trần Quốc Thịnh - Hoà hợp kế toán từ chuẩn mực đến thực tiễn). Van der Tas (1988, tr 157) cho rằng hài hoà là sự kết hợp, điều chỉnh của hai hay nhiều đối tượng. Tay and Parker (1990) đưa ra một mô hình giải thích khái niệm “hài hòa” và phân biệt với “tiêu chuẩn hóa”. Theo đó, quá trình “hài hòa” là sự chuyển hóa từ trạng thái đa dạng hoàn toàn các phương pháp kế toán sang trạng thái hài hòa, có nghĩa là sự hình thành các nhóm doanh nghiệp tập trung vào một số ít các phương pháp kế toán.

Trong khi đó, quá trình “tiêu chuẩn hóa” là sự chuyển hóa sang trạng thái thống nhất. Như vậy, “tiêu chuẩn hóa” bao hàm cả sự “hài hòa” và sau đó sự giảm thiểu các lựa chọn về phương pháp kế toán. Theo FASB, sự hài hoà nhằm mục đích giảm thiểu sự khác biệt của các nguyên tắc kế toán ở các thị trường vốn lớn trên thế giới. Đến năm 1990 thì khái niệm hài hoà được thay thế bằng khái niệm hội tụ (Convergence) Hội tụ là sự phát triển của hệ thống CMKT quốc tế chất lượng cao được áp dụng ít nhất ở tất cả các thị trường vốn lớn trên thế giới (Theo FASB) 2.1 Hài hoà chuẩn mực kế toán và hài hoà thực tế kế toán Hài hoà chuẩn mực về kế toán được chia thành hai loại: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 - Sự hài hoà trong CMKT (formal hay de jure) liên quan đến tính thống nhất và nhất quán của các quy định và luật lệ kế toán.

- Sự hài hoà trong thực hành kế toán (material hay de facto) là sự hài hoà trong nguyên tắc lập và trình bày BCTC được tiến hành tại các DN. Theo Van der Tas (1992), hài hòa CMKT và hài hòa thực tế kế toán cần được nghiên cứu dưới hai góc độ: hài hòa về mặt công bố thông tin (disclosure harmonization) và hài hòa về mặt đo lường (mearsurement harmonization), trong đó:  Hài hòa về mặt đo lường: là hài hòa về phương pháp kế toán được lựa chọn. Mục tiêu của hài hòa CMKT về đo lường là tránh hoặc loại bỏ các chuẩn mực mâu thuẫn hoặc khác biệt cơ bản. Mục tiêu của hài hòa thực tế kế toán về đo lường là tăng tính có thể so sánh được của BCTC.

Để BCTC có thể so sánh được, các công ty phải chọn cùng một phương pháp kế toán cho các nội dung kinh tế có cùng bản chất. Việc lựa chọn cùng một phương pháp kế toán như vậy sẽ giới hạn được một trong các yếu tố làm các chỉ số của BCTC khác biệt mà không xuất phát từ khác biệt về kết quả hoạt động.  Hài hòa về mặt công bố thông tin: là hài hòa về mức độ khai báo thông tin (số lượng và chi tiết của các thông tin được trình bày trên BCTC). Mục tiêu của hài hòa thực tế về công bố thông tin là các BCTC của các công ty cùng công bố một số các thông tin xác định ở cùng một mức độ chi tiết xác định, mức độ khai báo thông tin này được xem như mức độ khai báo thông tin tối thiểu mà tất cả các BCTC phải đáp ứng được.

Mục tiêu của hài hòa CMKT về công bố thông tin là đạt được chuẩn chung về mức độ khai báo thông tin tối thiểu. Hài hoà chuẩn mực là cơ sở để đạt được sự hài hoà trong thực tế. Hài hoà trong thực tế không thể đạt được nếu thiếu sự hài hoà trong chuẩn mực (Qu and Zhang, 2010) điều đó cho thấy tầm quan trọng của hài hòa trong chuẩn mực nên TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 tác giả tập trung vào hài hòa chuẩn mực và đo lường cả hai khía cạnh thời điểm và quá trình trong bài nghiên cứu của mình.2 Tiến trình hài hoà kế toán quốc tế Tổ chức IASC (International Accounting Standards Committee) thành lập năm 1973 là tổ chức đầu tiên ban hành chuẩn mực kế toán quốc tế. Năm 2001, IASC được tái cấu trúc thành IASB (International Accounting Standards Board).

Kể từ đó, các chuẩn mực kế toán quốc tế được bắt đầu áp dụng. Một số sự kiện quan trọng trong quá trình hội tụ quốc tế về CMKT ssược tổng hợp theo trang web của FASB: - Những năm 1960: Xuất hiện nhu cầu và những bước đi đầu tiên của chuâmr mực toàn cầu. Sự quan tâm đến kế toán quốc tế bắt đầu phát triển vào cuối thập niên 1950 và đầu những năm 1960 do hội nhập kinh tế thời hậu Thế chiến thứ II và sự gia tăng trong các dòng vốn xuyên biên giới. - Giai đoạn 1970 – 1980: Xuất hiện tổ chức chuẩn mực quốc tế IASC.

Những bước hợp tác đầu tiên đã xuất hiện và gia tăng dần giữa IASC với FASB và các tổ chức thiết lập chuẩn mực quốc gia khác. - Những năm 1990: IASB được hình thành và ngày càng mở rộng hoạt động quốc tế của mình. Trong những năm 1990, FASB phát triển kế hoạch chiến lược đầu tiên của mình cho các hoạt động quốc tế và mở rộng phạm vi hợp tác với các tổ chức thiết lập chuẩn mực khác một cách mạnh mẽ. Quốc hội Mỹ và SEC cũng bắt đầu tham gia vào các vấn đề liên quan đến quốc tế.

Vào cuối thập kỉ này, FASB đã trực tiếp tham gia vào những nổ lực để tái cơ cấu IASC thành IASB. - Những năm 2000: Quá trình hội tụ phát triển với tốc độ nhanh chóng. Việc sử dụng chuẩn mực quốc tế lan nhanh cùng với sự hợp tác của FASB và IASB. Năm 2001, IASC được tái cấu trúc thành IASB.

Năm 2009 Liên minh châu Âu và hơn 100 quốc gia khác đã áp dụng tiêu chuẩn quốc tế hoặc một chuẩn mực riêng dựa trên chuẩn mực quốc tế. Một số quốc gia khác bao gồm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 16 Canada, Hàn Quốc, Ấn Độ và Brazil, đã cam kết sẽ áp dụng chuẩn quốc tế vào năm 2011. Năm 2002, FASB và IASB bắt tay vào cải thiện và hội tụ U.S GAAP và chuẩn mực quốc tế. IASB và FASB đã có cuộc họp năm 2002, thống nhất giảm đi những sự khác nhau giữa IFRS và U.

Hiệp định Norwalk chia sẻ mục tiêu phát triển một CMKT chất lượng cao và phù hợp mà có thể được sử dụng cho các báo cáo tài chính trong nước và xuyên biên giới. Nó cũng thiết lập một chiến thuật rộng để đạt được mục tiêu cùng phát triển các chuẩn mực loại bỏ sự khác biệt, và hội tụ lâu dài. Nhật Bản và Trung Quốc cũng đã bắt đầu các kế hoạch hội tụ với IASB. - Cho đến nay, cùng với sự phát triển kinh tế trên phạm vi toàn cầu, nhu cầu sử dụng một hệ thống CMKT chung ngày càng tăng.

IFRS đã chấp nhận trên và ngày càng được nhiều các quốc gia sử dụng. Từ năm 2005, IFRS đã được áp dụng tại 65 quốc gia, các DN nhà nước tại EU cũng đã được yêu cầu phải sử dụng IFRS. IOSCO (Tổ chức quốc tế các Ủy ban Chứng khoán) cũng đã áp dụng IFRS cho các công ty niêm yết ra nước ngoài. Năm 2011, có thêm nhiều quốc gia áp dụng IFRS: Nhật Bản, Canada, Ấn Độ, Brazil, Hàn Quốc.

Theo FASB, tính đến năm 2013, liên minh châu Âu và hơn 100 quốc gia khác đã áp dụng chuẩn mực BCTC quốc tế (IFRSs) được ban hành bởi IASB hoặc chuẩn mực riêng được soạn thảo dựa trên chuẩn mực BCTC quốc tế. - Như vậy, quá trình hòa hợp kế toán đã lan tỏa và có sự ảnh hưởng ở nhiều quốc gia trên thế giới. Điều này đã cho thấy hòa hợp kế toán là một nhu cầu và là xu thế tất yếu trong nền kinh tế toàn cầu hiện nay. Ở Việt Nam, việc Bộ Tài Chính dựa trên CMKT quốc tế để soạn thảo CMKT Việt Nam là một quyết định đúng đắn.

Tuy nhiên, hệ thống CMKT Việt Nam cần có những cập nhật, bổ sung thì mức độ hoà hợp với CMKT quốc tế mới được nâng cao hơn nữa.2 Tổng quan về chuẩn mực kế toán quốc tế và Việt Nam về tài sản vô hình TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1 Tổng quan về sự hài hoà giữa CMKT Việt Nam và CMKT quốc tế Việt Nam đã ban hành 26 CMKT (VAS) qua 5 đợt, từ tháng 12 năm 2001 đến tháng 12 năm 2005. Tuy nhiên, sau đó VAS đã không được cập nhật những sửa đổi, bổ sung của IAS liên quan và IFRS mới được ban hành sau năm 2003. Vì vậy cho thấy, sự hội tụ giữa VAS và IAS/IFRS giảm theo thời gian.1 cột IV cho thấy độ trễ thời gian trung bình khi ban hành VAS với ngày ban hành IAS/IFRS cũ cụ thể là 55 tháng. IAS/IFRS được cập nhật liên tục theo thời gian trong khi VAS không thay đổi trong mười năm qua (2006-2016).

Do đó, khoảng cách thời gian trung bình giữa ngày ban hành của các quy tắc CMKT Việt Nam và ngày của CMKT quốc tế mới nhất tương đương là 44 tháng xem Bảng 2. Hơn nữa, khoảng cách thời gian trung bình giữa ngày ban hành của các CMKT Việt Nam và các ngày cuối cùng của nghiên cứu này (tháng 08/2016) là 151 tháng xem Bảng 2.1, cột VI và cho thấy khoảng cách ngày càng tăng nghiêm trọng giữa quy tắc VAS và IAS/IFRS trong khi môi trường kinh doanh toàn cầu đang thay đổi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận văn thạc sĩ mang tiêu đề "Luận văn thạc sĩ kinh tế đo lường mức độ hài hoà các quy định về tài sản cố định vô hình giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế" của tác giả Nguyễn Khoa Diệu Trang, dưới sự hướng dẫn của PGS. Võ Văn Nhị, được thực hiện tại Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh vào năm 2017. Nghiên cứu này tập trung vào việc so sánh và đánh giá mức độ tương đồng giữa các quy định về tài sản cố định vô hình trong kế toán Việt Nam và quốc tế. Điều này không chỉ giúp nâng cao hiểu biết về các tiêu chuẩn kế toán mà còn hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc áp dụng đúng quy định, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý tài sản.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh liên quan đến quản lý tài chính và kế toán, bạn có thể tham khảo các bài viết sau:

Những bài viết này không chỉ giúp bạn mở rộng kiến thức trong lĩnh vực kế toán mà còn cung cấp cái nhìn tổng quát về các vấn đề quản lý tài chính và hành vi tiêu dùng trong bối cảnh hiện đại.