phần mở đầu, tài liệu tham khảo và các tài liệu kèm theo thì luận văn nghiên cứu có nội dung gồm 05 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan nghiên cứu Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết về đo lƣờng mức độ hòa hợp giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế về hợp đồng xây dựng Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận Chƣơng 5: Kết luận và kiến nghị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƢƠNG I TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Nghiên cứu về hòa hợp kế toán quốc tế (International Accounting Harmonization- IAH) là một đề tài lớn thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên toàn thế giới. Trong những năm qua đã có một lƣợng lớn các nghiên cứu về IAH. Từ năm 1965 đến năm 2007 có khoảng 200 bài nghiên cứu về IAH đƣợc công bố trên 24 tạp chí nghiên cứu kế toán hàng đầu trên thế giới (Baker & Barbu, 2007). Tuy nhiên các nghiên cứu trƣớc năm 1987 chủ yếu thực hiện bởi các tổ chức nghề nghiệp hay đƣợc khảo sát bởi các công ty kiểm toán lớn (Kees Camfferman, 2007).
Hai phƣơng diện đƣợc đƣa ra khi tiến hành các nghiên cứu về IAH là hòa hợp về chuẩn mực (de jure) và hòa hợp về thực tế (de facto). Tuy vậy, các nhà nghiên cứu hầu nhƣ chỉ đo lƣờng từng loại hòa hợp một cách riêng biệt, rất ít nghiên cứu đƣợc thực hiện để thể hiện mối quan hệ giữa cả hai loại hòa hợp. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, đo lƣờng mức độ hòa hợp chuẩn mực thì quan trọng hơn do mức độ ảnh hƣởng ngày càng gia tăng của chuẩn mực kế toán đến thực hành kế toán (Rahman, Perera & Ganeshanandam, 1996; Garridoa, Leona & Zorio, 2002; Fontes, Rodrigues & Craig, 2005). Trong khi đó, (Emenyonu & Gray, 1992; Herrmann & Thomas, 1998; Archer, Pascale & McLeay, 1998; Canibano & Mora, 2000) lại cho rằng, bản chất của hòa hợp kế toán là làm tăng khả năng so sánh của BCTC, do vậy nghiên cứu về thực tế nên đƣợc ƣu tiên thực hiện hơn.
Garrido et al. (2002) và Bayerlein et al. (2012) đã tổng kết và đều cho rằng so với nghiên cứu hòa hợp về thực hành kế toán thì số lƣợng nghiên cứu hòa hợp về chuẩn mực ít hơn. Hầu hết các nghiên cứu trƣớc đây hầu hết đều tập trung đo lƣờng mức độ hòa hợp thực tế.
Tiền đề của các nghiên cứu về mức độ hòa hợp thực tế sau này là nghiên cứu về hòa hợp tiêu chuẩn của Evans and Taylor (1982). Nghiên cứu này tập trung đánh giá mức độ ảnh hƣởng của chuẩn mực kế toán do IASC (International Financial Reporting Standards) ban hành lên các báo cáo tài chính của các nƣớc: Pháp, Nhật Bản, Anh, Mỹ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 và Tây Đức giai đoạn 1975- 1988. Kết quả cho thấy IASC có ảnh hƣởng rất nhỏ lên thực tế kế toán của các nƣớc tham gia khảo sát. Van der Tas đƣợc xem nhƣ là ngƣời tiên phong khai phá cho các nghiên cứu đo lƣờng mức độ hòa hợp thực tế.
Nghiên cứu ―Measuring harmonization of Financial reporting Practice‖ của ông đề xuất sử dụng chỉ số Herfindahl (H) để đo lƣờng hòa hợp trong một quốc gia, chỉ số I để đo lƣờng hòa hợp giữa các quốc gia và chỉ số Comparability (C) để đo lƣờng sự hòa hợp về tính so sánh của các lựa chọn kế toán giữa các quốc gia. Tác giả đã sử dụng báo cáo hàng năm từ năm 1978- 1984 của các quốc gia Anh, Mỹ và Hà Lan để đƣa ra kết luận rằng khả năng so sánh các lựa chọn kế toán giữa hai quốc gia là thấp và có sự gia tăng từ năm 1978 đến năm 1984 nhƣng chƣa đánh giá đƣợc tầm quan trọng của thay đổi chỉ số hòa hợp theo thời gian. Sau đó, năm 1995 Herrmann & Thomas công bố nghiên cứu ―Harmonization of Accounting Measurement Practices in the European Community‖. Nghiên cứu nhằm xác định mức độ hòa hợp kế toán tại châu Âu bằng cách đo lƣờng mức độ hòa hợp thực tế thông qua việc sử dụng báo cáo thƣờng niên của 217 công ty lớn đến từ 08 quốc gia: Bỉ, Đan Mạch, Pháp, Đức, Ireland, Hà Lan, Bồ Đào Nha và Anh giai đoạn 1992/93.
Mức độ hòa hợp đƣợc kiểm định bằng chi bình phƣơng, đo lƣờng bằng chỉ số H và I. Kết quả cho thấy mức độ hòa hợp là thấp đối với kế toán lợi thế thƣơng mại, định giá hàng tồn kho và tài sản cố định đồng thời chƣa phân biệt hòa hợp trong và giữa các quốc gia cũng nhƣ thay đổi quá trình hòa hợp. Để khắc phục vấn đề tồn tại trong nghiên cứu của Herrmann & Thomas, Archer et al. Nghiên cứu của Archer đƣợc thực hiện dựa trên báo cáo thƣờng niên của 89 công ty châu Âu có vốn nƣớc ngoài giai đoạn 1986/87 và 1990/91.
Các chính sách kế toán đƣợc phân tích chuyên sâu trong nghiên cứu này là phƣơng pháp xử lý lợi thế thƣơng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 mại và kế toán các khoản thuế hoãn lại. Kết quả chỉ ra rằng, mức độ hòa hợp là thấp đối với cả hai khoản mục đồng thời có sự gia tăng nhẹ về mức độ hòa hợp giữa những năm 1986/87 và 1990/91. Nhƣợc điểm tồn tại chung của các nghiên cứu này là chƣa đánh giá đƣợc mức ý nghĩa của thay đổi hòa hợp qua thời gian cuối cùng đƣợc Canibano & Mora (2000), Aisbitt & Nobes (2001) giải quyết bởi kiểm định chi bình phƣơng. Kiểm định chi bình phƣơng cũng đƣợc dùng trong bài nghiên cứu của Songlan Peng (2005) và Lasmin (2011).
Dữ liệu nghiên cứu đƣợc sử dụng để đo lƣờng mức độ hòa hợp thực tế là thông tin kế toán đƣợc trình bày trên BCTC của công ty. Tuy nhiên, bởi vì nghiên cứu về hòa hợp chuẩn mực và hòa hợp thực tế có sự khác nhau đáng kể nên các chỉ số đƣợc dùng trong nghiên cứu về hòa hợp thực tế đƣợc xem nhƣ không có giá trị để đánh giá hòa hợp chuẩn mực. Vì lý do đó, một số nhà nghiên cứu nhƣ: Adhikari and Tondkar (1992), Rahman et al. (1996), Lainez et al.
(1996), Garrido et al. (2002), Fontes et al. (2005), Ding et al. (2007), Qu and Zhang (2010) đã bắt đầu phát triển những phƣơng pháp mới để đo lƣờng sự tiến bộ trong hòa hợp về chuẩn mực, tập trung vào các yêu cầu của những quy định kế toán ở các quốc gia khác nhau.
Họ tiến hành nghiên cứu hòa hợp từ giai đoạn kế toán thử nghiệm cho đến giai đoạn phƣơng pháp luận và cuối cùng đƣa ra phƣơng pháp nghiên cứu. Theo đó, bất kỳ vấn đề kế toán của quốc gia nào cũng có thể đƣợc đánh giá trong khuôn khổ của các thiết kế nghiên cứu này. Đây đều là những nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng và đóng góp đáng kể cho lĩnh vực này. Các nghiên cứu hòa hợp về chuẩn mực là nghiên cứu về các quy định kế toán, tuy nhiên mỗi nghiên cứu có trọng tâm riêng và đƣợc chia thành các dòng nghiên cứu khác nhau: (1) khám phá sự khác biệt quan trọng giữa chuẩn mực quốc gia và IAS/IFRS; (2) khám phá những thuận lợi và khó khăn khi hội tụ CMKT quốc gia với IAS/IFRS, (3) đánh giá ảnh hƣởng của sự khác biệt giữa các chuẩn mực quốc gia với IAS/IFRS đến chất lƣợng thông tin kế toán và (4) lƣợng hóa mức độ hài hòa về chuẩn mực của các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 quy định kế toán (Phạm Hoài Hƣơng, 2012).
Để phù hợp với mục tiêu nghiên cứu, bài viết tập trung tổng kết dòng nghiên cứu thứ tƣ. Nair and Frank (1980) gần nhƣ là tác giả đầu tiên tiến hành nghiên cứu về hòa hợp chuẩn mực. Nghiên cứu chú trọng đánh giá mức độ tiêu chuẩn hóa chuẩn mực kế toán của các quốc gia khi có sự ra đời của IASC. Nguồn dữ liệu của họ là Bảng khảo sát của Price Waterhouse & Co.
về các quy định kế toán của 37 quốc gia năm 1973 và 46 quốc gia năm 1975. Kết quả thể hiện rằng mức độ hòa hợp giữa các chuẩn mực kế toán có tăng lên cùng với sự hình thành của IASC. Năm 1984, McKinnon and Janell phân tích ảnh hƣởng trực tiếp và gián tiếp ảnh hƣởng của chuẩn mực kế toán do IASC ban hành. Nghiên cứu đƣợc thực hiện dựa trên khảo sát của Price Waterhouse & Co.
về quy định kế toán tại 64 quốc gia năm 1979. Kết quả cho thấy IASC đã không thành công trong việc thay đổi các chuẩn mực hiện tại hoặc ban hành các chuẩn mực mới. Doupnik and Taylor (1985) đã sử dụng bảng câu hỏi và bảng khảo sát của Price Waterhouse & Co. về quy định kế toán của 16 nƣớc Tây Âu năm 1979 để đánh giá mức độ tuân thủ chuẩn mực kế toán qua thời gian.
Kết quả thu đƣợc chứng minh rằng có sự gia tăng mức độ tuân thủ chuẩn mực của IASC tại 16 quốc gia này. Adhikari and Tondkar (1992) trong nghiên cứu của mình đã đƣa ra mô hình công bố xuyên quốc gia để xem xét mối quan hệ giữa các yếu tố môi trƣờng và yêu cầu công bố thông tin kế toán của 35 thị trƣờng chứng khoán ở các nƣớc khác nhau. Năm yếu tố môi trƣờng đƣợc lựa chọn là: mức độ phát triển kinh tế, loại hình kinh tế, quy mô của thị trƣờng chứng khoán, hoạt động của thị trƣờng và phân tán quyền sở hữu cổ phiếu tại thị trƣờng chứng khoán. Kết quả tổng thể thu đƣợc từ mô hình hồi quy dữ liệu chéo chỉ ra rằng các yếu tố môi trƣờng có ảnh hƣởng đến yêu cầu công bố thông tin kế toán của các sàn giao dịch mỗi quốc gia.
Rahman et al. (1996) trong nghiên cứu ―Measurement of formal harmonisation in accounting: An exploratory study‖ đã đo lƣờng mức độ hòa hợp chuẩn mực giữa hai LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 quốc gia là Úc và New Zealand. Nguồn dữ liệu của họ là các yêu cầu về công bố và đo lƣờng thông tin đƣợc quy định tại các CMKT, yêu cầu của Ủy ban chứng khoán và luật pháp mỗi nƣớc. Những yêu cầu về công bố và đo lƣờng trong mỗi mục đƣợc xem là dữ liệu rời rạc.
Các nguyên tắc kế toán đƣợc phân loại thành những mục: ―Bắt buộc‖, ―Cho phép‖, ―Không quy định‖ và ―Không cấm‖. Hệ số ―exact matches‖ đƣợc tính cho mỗi quy định về công bố và đo lƣờng, sử dụng khoảng cách Mahalanobis để đo lƣờng khoảng cách của các mục. Kết quả bài nghiên cứu cho thấy mức độ hòa hợp về yêu cầu đo lƣờng cao hơn mức độ hòa hợp về yêu cầu công bố thông tin.