CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Chương tổng quan về các nghiên cứu trước này được thực hiện nhằm mục đích hệ thống hóa, phân tích các nghiên cứu trước liên quan đến đề tài nghiên cứu, xác định khoảng trống nghiên cứu từ đó đưa ra cơ sở thực hiện nghiên cứu. Để thực hiện điều này, tác giả lần lượt trình bày các nghiên cứu ở nước ngoài, các nghiên cứu ở trong nước có mối liên hệ đến công trình nghiên cứu, từ đó đưa ra nhận định và xác định khoảng trống nghiên cứu mà đề tài sẽ thực hiện.1 Tổng quan nghiên cứu nước ngoài về chuẩn mực báo cáo tài chính cho doanh nghiệp nhỏ và vừa Sự phong phú trong các hệ thống qui định kế toán tại các nước khác nhau, tạo ra những hệ quả đáng bàn về kinh tế đối với vấn đề giải thích BCTC ở cấp độ quốc tế (Kossentini & Othman, 2011; Fatma & Jamel, 2013). Kết quả là, các tổ chức kế toán - tài chính và tổ chức chứng khoán thế giới đã khởi xướng một quá trình để thúc đẩy việc hài hoà các tiêu chuẩn kế toán như một phương tiện để cải thiện tính minh bạch và tính so sánh trong các báo cáo TC. Các nỗ lực của những tổ chức như Ủy ban Quốc tế về Tiêu chuẩn Kế toán (IASC, tổ chức trước kia của IASB), Tổ chức Quốc tế về Chứng khoán (IOSCO) và các tổ chức kế toán khác trên toàn cầu đã dẫn tới việc xây dựng các Chuẩn mực kế toán quốc tế, nay được gọi là Tiêu chuẩn Báo cáo Tài chính Quốc tế hay Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế và Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế cho DNNVV.
Việc áp dụng CMBCTCQT nói chung CMBCTCQT cho DNNVV nói riêng ở các nước đã tăng lên kể từ khi chuẩn mực đầu tiên được hoàn thành vào năm 1998, Úc và các nước thành viên của Liên minh Châu Âu năm 2005 là các quốc gia đi đầu trong áp dụng CMBCTCQT. Tuy nhiên, vẫn nhiều quốc gia không sẵn sàng tham gia vấn đề áp dụng CMBCTCQT nói chung CMBCTCQT cho DNNVV nói riêng (Samujh & Devi, 2015), và hiện nay các tác giả trong và ngoài nước vẫn đang nghiên cứu lý do tại sao các nước không muốn áp dụng CMBCTCQT cho DNNVV.1 Nghiên cứu nhu cầu và lợi ích khi áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính cho doanh nghiệp nhỏ và vừa Các lập luận ủng hộ việc áp dụng CMBCTCQT nói chung CMBCTCQT cho DNNVV nói riêng nhấn mạnh những lợi ích tiềm tàng như sự tin cậy của nhà đầu tư tăng lên và giảm chi phí báo cáo cho các công ty niêm yết quốc tế. Như vậy, triển vọng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 của một lợi thế so sánh từ thanh khoản cao hơn và chi phí thấp hơn vốn có thể ảnh hưởng đến các nhà hoạch định chính sách quốc gia để áp dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế (tên trong tiếng Anh là International Accounting Standards – IAS, được viết tắt là CMKTQT) được công nhận (Eierle & Schultze, 2013). Việc thông qua các chuẩn mực kế toán chung có thể gia tăng mối quan hệ kinh tế giữa các nước thông qua việc giảm thiểu chi phí xử lý, theo dõi thông tin tài chính và gia tăng sự liên kết trong hệ thống mạng lưới truyền thông (Albu, 2013).
Tương tự, cải thiện việc niêm yết thông tin tài chính, khả năng so sánh của thông tin có thể dẫn đến sự di chuyển vốn quốc tế lớn hơn và đầu tư vốn xuyên biên giới (Adhikari & Tondkar, 1992). Cuối cùng, các quốc gia không có nguồn lực để phát triển các quy định, chuẩn mực kế toán cho quốc gia mình có thể sử dụng các tiêu chuẩn CMKTQT như một cơ chế báo hiệu để thu hút nguồn vốn nước ngoài. Theo nghiên cứu của Mazars (2008), tác giả này đã thực hiện việc phỏng vấn bằng cách gọi điện thoại cho 1593 doanh nghiệp nhỏ và vừa ở 6 quốc gia thuộc khối EU gồm Tây Ban Nha, Đức, Pháp, Ý, Hà Lan, và Anh từ ngày 4 tháng 9 đến ngày 5 tháng 10 năm 2007 để nhằm mục đích khảo sát nhận thức của các DN về quá trình hội tụ chuẩn mực kế toán của từng nước đến gần với CMBCTCQT cho DNNVV, kết quả thông qua dữ liệu khảo sát cho thấy rằng hầu hết các doanh nghiệp đều công nhận rằng cần phải có CMBCTCQT cho DNNVV, trong đó nước Hà Lan và nước Tây Ban Nha có đến 90% DN nhỏ và vừa đồng tình mạnh mẽ quan điểm cần phải áp dụng CMBCTCQT cho DNNVV. Các DNNVV ở nước Ý còn khẳng định rằng việc ứng dụng CMBCTCQT cho DNNVV còn có tác dụng liên xuyên quốc gia và làm tăng trưởng nguồn khách hàng tiềm ẩn thông qua hoạt động đầu tư kinh doanh ở trong nước và ở nước ngoài.
Các DNNVV ở Tây Ban Nha thì cho rằng việc vận dụng CMBCTCQT cho DNNVV sẽ tạo ra những lợi ích lớn hơn so với những khó khăn và thách thức phát sinh từ việc vận dụng chuẩn mực tài chính này. Nghiên cứu của Atik (2010) thực hiện mục đích đánh giá luận điểm của DNNVV của nước Thổ Nhĩ Kỳ về việc xác định những nhân tố ảnh hưởng đến quan điểm chấp nhận áp dụng CMBCTCQT cho DNNVV. Kết quả phân tích các mẫu lựa chọn trong đề tài cho thấy rằng phần lớn các DN được khảo sát đều có quy mô DN rất nhỏ theo tiêu chuẩn phân loại DN nhỏ và vừa của Thổ Nhĩ Kỳ (có số lượng người lao động thấp 10 người và doanh thu đạt được trong năm là dưới 5 triệu Liras- đơn vị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 đồng tiền của nước Thổ Nhĩ Kỳ). Hầu hết các chủ DNNVV đều thuê những người bên ngoài về làm kế toán và để lập BCTC và báo cáo TC chủ yếu phục vụ cho việc đối phó với cơ quan thuế (chiếm khoảng 74,7%), có hơn 35% DNNVV có hoạt động NK và hoạt động XK.
Mặc dù các DN có rất ít các hoạt động liên quan đến giao thương quốc tế nhưng tỷ lệ DNNVV ủng hộ vận dụng CMBCTCQT cho DNNVV khá cao (đạt 94,41%). Và có đến 72,67% các DN mong muốn được tự nguyện vận dụng. Nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra lợi ích từ việc áp dụng CMBCTCQT nói chung và CMBCTCQT cho DNNVV nói riêng là cải thiện tính minh bạch của BCTC. Vera Palea (2014) thực hiện nghiên cứu và đánh giá tác động khi áp dụng CMBCTCQT ở 5 nước Châu Âu với kết quả rằng áp dụng CMBCTCQT cải thiện chất lượng thông tin BCTC, tăng tính hữu ích nâng cao thông tin minh bạch với chủ đầu tư.
Daske & cộng sự (2013) chỉ ra rằng CMBCTCQT phù hợp với các quốc gia có thị trường vốn phát triển vì minh bạch và công khai BCTC phù hợp với nhà đầu tư, cung cấp thông tin toàn diện rõ ràng hơn so với chuẩn mực kế toán quốc gia. Theo nghiên cứu của Young & Guenther (2003) chỉ ra đóng góp đáng kể của CMBCTCQT đặc biệt tại các nước đang phát triển là tăng cường hội nhập và cạnh tranh trong thị trường tài chính. Cải tiến trong công bố và minh bạch thông tin tài chính, và có thể chuyển vốn quốc tế và đầu tư xuyên biên giới nhiều hơn, tạo cơ hội mở rộng hợp tác kinh doanh giữa các quốc gia. Christopher & Christian (2014) cho rằng CMBCTCQT tác dộng tích cực đến chất lượng thông tin cung cấp cho nhà quản lý.
Đặc biệt tính thông tin thay đổi liên quan đến đo lường chất lượng thông tin tác động quan trọng đối với quyết định của chính sách kế toán, giúp cải thiện chất lượng hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp. Theo Sian & Roberts (2008) thực hiện công trình nghiên cứu bằng cách thảo luận nhóm với đối tượng nghiên cứu là các chủ sỡ hữu doanh nghiệp, các nhà băng và những người làm kế toán của 5 nước, cụ thể là nước Uruquay, quốc gia Ý, Kenya, Anh, và nước Ba Lan về sự phù hợp của CMBCTCQT cho DNNVV đối với các DN có quy mô nhỏ với số lượng người lao động ít hơn 10 người. Kết quả nghiên cứu của công trình cho thấy DNNVV ở Kenya rất tán thành việc áp dụng CMBCTCQT cho DNNVV và Kenya ban hành quy định cụ thể CMBCTCQT được vận dụng không phân biệt cho tất cả các loại hình DN và không có bất kỳ quy định chuẩn mực giảm trừ nào cho việc vận dụng cho các DN có quy mô nhỏ hơn vì thế các DNNVV ở Kenya có nhu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 cầu rất lớn về việc áp dụng CMBCTCQT cho DNNVV. Còn các nước Ba Lan, Ý và Uruquay thì có quan điểm có thể sử dụng cả hai bộ chuẩn mực, tuy nhiên họ thích áp dụng chuẩn mực kế toán quốc gia hơn.
Ngược lại thì nước Anh lại không có nhu cầu về chuẩn mực BCTC quốc tế mặc dù các công ty ở Anh có nhiều hoạt động kinh doanh liên quan đến quốc tế rất nhiều. Các nghiên cứu trên đã cung cấp được bằng chứng ngày càng nhiều quốc gia trên thế giới ủng hộ và tự nguyện thực hiện việc áp dụng toàn bộ hoặc một phần bộ CMBCTCQT cho DNNVV. Bên cạnh đó cũng có một số nghiên cứu phản đối việc áp dụng CMBCTCQT cho DNNVV. Như nghiên cứu của Nobes & Parker (1995) cho rằng các nước có hệ thống pháp luật mà tập trung vào bảo vệ quyền sở hữu cao hơn là bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư thì khả năng cao là họ không áp dụng CMBCTCQT cho DNNVV.
Bên cạnh đó nhiều nghiên cứu cho thấy, những nước có nền văn hoá e ngại rủi ro thấp thì thường có xu hướng không vận dụng CMBCTCQT cho DNNVV mặc dù có các tác động, yêu cầu từ bên ngoài có thể thúc đẩy sự thay đổi trong quy định về báo cáo tài chính (Salter & Niswander, 1995) nhưng khi chi phí chuyển đổi để áp dụng những quy định ấy lớn thì nhiều khả năng quyết định được đưa ra là không áp dụng CMBCTCQT (Uzma, 2016). Cũng trong nghiên cứu của Uzma (2016) cho thấy có nhiều sự khác biệt trong hệ thống chế độ kế toán, quy định tính pháp lý của mỗi nước so với CMKTQT, vì thế mà việc tiếp xúc để áp dụng CMBCTCQT cho DNNVV vào từng quốc gia cụ thể là một thách thức không nhỏ, đặc biệt là đối với các quốc gia đang trong quá trình phát triển, và vì thế họ phản đối việc áp dụng CMBCTCQT cho DNNVV.