Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO THỦ ĐÔ VIÊNG CHĂN NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO 1. Một số vấn đề chung về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Quan niệm về vốn đầu tư nước ngoài * Quan niệm về vốn Vốn và huy động vốn cho phát triển kinh tế xã hội là vấn đề được nhiều học giả, nhiều công trình nghiên cứu, tuy nhiên do cách tiếp cận khác nhau nên có nhiều quan niệm khác nhau về vốn. Ricacdo (1772 - 1823) quan niệm vốn dưới góc độ tư bản đầu tư với những mục đích cụ thể: “Tư bản là một bộ phận của cải trong nước, được dùng vào việc sản xuất bao gồm thức ăn, đồ mặc, các công cụ, nguyên liệu, vật liệu, máy móc.
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc và phê phán các tư tưởng kinh tế trong lịch sử, C.Mác đã khẳng định được bản chất của vốn (Tư bản). Ông khẳng định: “giá trị được ứng ra lúc ban đầu không những được bảo tồn trong lưu thông, mà còn thay đổi đại lượng của nó, còn cộng thêm một giá trị thặng dư, hay đã tự tăng thêm giá trị. Chính sự vận động ấy biến giá trị thành tư bản" [42, tr.Mác đã vạch rõ bản chất và chức năng của tư bản (vốn) trong phát triển kinh tế. Bản chất của tư bản là giá trị, song không phải mọi giá trị (tiền) đều là tư bản, mà chỉ những giá trị được sử dụng để bóc lột người khác đem lại thu nhập không công cho chủ sở hữu nó mới là tư bản.
Ông đã phân tích sâu sắc vai trò của tư bản bất biến và tư bản khả biến trong việc tạo ra giá trị thặng dư. Theo đó tư bản bất biến chỉ là điều kiện, còn tư bản khả biến chính nguồn gốc duy nhất của giá trị thặng dư. Theo cách tiếp cận về tài chính - tiền tệ, tác giả Hồ Văn Mộc và Điêu Quốc Tín cho rằng: “Vốn là tổng số tiền biểu hiện nguồn gốc hình thành của 12 tài sản được đầu tư trong kinh doanh để tạo ra thu nhập và lợi tức”[46, tr. Từ điển Tiếng Việt quan niệm: “Vốn là tổng thể nói chung những tài sản bỏ ra lúc ban đầu thường được biểu hiện bằng tiền dùng trong sản xuất, kinh doanh, nói chung là hoạt động sinh lời” [69, tr.1126], Kế thừa các quan niệm về vốn đã được các nhà kinh tế học đưa ra, trên cơ sở nghiên cứu và phạm vi của đề tài tác giả đưa ra quan niệm về vốn như sau: “Vốn là tổng giá trị của những tài sản được tính bằng tiền bỏ ra ban đầu cho sản xuất kinh doanh nhằm đem lại lợi nhuận”.
Phân loại vốn: Dựa vào phạm vi lãnh thổ: Vốn chia làm hai loại là vốn trong nước và vốn ngoài nước. Trong đó vốn trong nước là quyết định, vốn ngoài nước là nguồn vốn quan trọng. Dựa vào thời gian hoạt động: có vốn ngắn hạn (lượng tiền sử dụng đầu tư trong khoảng thời hạn 1 năm); vốn trung hạn (từ 3 đến 5 năm) và vốn dài hạn (từ 5 năm trở lên). Dựa vào quan hệ sở hữu: Vốn được phân chia gồm: Vốn chủ sở hữu (vốn tự có) và vốn vay (huy động từ bên ngoài) có thể huy động từ vay trong nước và vay ngoài nước.
Dựa vào đặc điểm vận động, vốn có hai loại: Vốn cố định và vốn lưu động. Vốn cố định được biểu hiện bởi giá trị những tài sản cố định, bao gồm: đất đai, máy móc, thiết bị, nhà xưởng. vốn lưu động được biểu hiện bởi giá trị của những tài sản lưu động, bao gồm: Nguyên vật liệu, các khoản tiền tệ đáp ứng thanh toán, trả công lao động. Dựa vào phương thức sử dụng vốn đầu tư: có vốn đầu tư trực tiếp và vốn đầu tư gián tiếp.
Dựa theo hình thái tồn tại cụ thể, vốn chia thành ba loại: Vốn hữu hình, vốn vô hình và vốn tiền tệ. * Quan niệm về vốn đầu tư 13 Vốn đầu tư - Capital investment là số tiền vốn được huy động nhằm sử dụng cho mục đích tái sản xuất hoặc hướng tới sự phát triển trong tương lai. Đây là số tiến vốn tích lũy của xã hội, của nền kinh tế, của các tổ chức sản xuất kinh doanh, của các chủ thể kinh tế trong nước hoặc cũng có thể là ngoài nước. Cũng có thể hiểu vốn đầu tư là toàn bộ chi phí mà một nhà đầu tư sẵn sàng bỏ ra để tiến hành thực hiện các hoạt động đầu tư theo kế hoạch đã được tạo lập, thực hiện đầu tư vào các ngành hoặc lĩnh vực kinh tế nào đó.
Có hai loại vốn đầu tư: vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư nước ngoài. Khoản 23, điều 3, Luật đầu tư số 61/2020/QH14 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 17/6/2020 có giải thích từ ngữ về vốn đầu tư: Vốn đầu tư là tiền và tài sản khác theo quy định của pháp luật về dân sự và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh. Như vậy theo định nghĩa này vốn đầu tư gồm hai dạng: thứ nhất, là một khoản tiền nhất định; thứ hai, là tài sản khác có giá trị được quy định theo luật của Việt Nam hoặc quy định trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia. Theo đó, chủ thể kinh tế bao gồm nhà nước; doanh nghiệp; người dân có thể sử dụng tiền hoặc tài sản có giá trị thực hiện các hoạt động đầu tư sản xuất, kinh doanh vào một hoặc một số ngành, nghề sản xuất, kinh doành thuộc lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ nào đó để tìm kiếm lợi nhuận từ khoản đầu tư của mình sau một khoảng thời gian nhất định.
Kế thừa các quan niệm trên đây, tác giả đưa ra quan niệm về vốn đầu tư như sau: Vốn đầu tư là tiền và các loại tài sản hợp pháp khác để thực hiện các hoạt động đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, thương mại với mục đích thu lợi nhuận. Dưới góc độ là chủ sỡ hữu trong mối quan hệ kinh tế giữa các nền kinh tế của các quốc gia, vốn đầu tư được phân chia thành hai dạng: vốn đầu tư trực tiếp và vốn đầu tư gián tiếp. Quan niệm, đặc điểm, vai trò vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài * Quan niệm về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 14 Theo nghĩa chung nhất, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI - Foreign Direct Investment) là hình thức đầu tư do chủ thể kinh tế (công ty, công dân) của một nước nào đó trực tiếp đem vốn (tiền hoặc tư liệu sản xuất) đầu tư sản xuất, kinh doanh ở một nước khác dưới nhiều hình thức khác nhau, nhằm mục đích thu lợi nhuận. Tiếp cận dưới góc độ kinh tế học, FDI chính là sự di chuyển vốn, tài sản (nguồn lực tài chính), khoa học, công nghệ, cách thức quản lý từ nước đi đầu tư sang nước tiếp nhận đầu tư nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc thành lập hoặc kiểm soát doanh nghiệp tại nước nhận đầu tư.
Việc khai thác các nguồn lực đó được vận hành bởi các quy luật của kinh tế thị trường, thông lệ kinh doanh quốc tế và sự điều tiết của luật pháp nước sở tại. Chúng tác động vào nền kinh tế ở nước nhận đầu tư trên cả hai chiều: tích cực (thuận chiều) và tiêu cực (trái chiều). Dưới góc độ kinh tế chính trị Mác-Lênin, trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thực chất của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là xuất khẩu tư bản.I Lênin, cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, xuất khẩu tư bản trở thành một trong năm đặc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa đế quốc.Lênin cho rằng, xuất khẩu tư bản là xuất khẩu giá trị ra nước ngoài nhằm mục đích chiếm đoạt giá trị thặng dư và các nguồn lợi khác ở các nước nhập khẩu. Thông qua đó chủ nghĩa tư bản áp đặt những vấn đề chính trị, lôi cuốn nước nhập khẩu vào guồng máy kinh tế, chính trị của mình.
Thực chất của xuất khẩu tư bản là sự mở rộng hoạt động của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ra nước ngoài, là công cụ nô dịch, bóc lột và thống trị của tư bản tài chính ngoài lãnh thổ quốc gia. Nguồn gốc sâu xa hay nguyên nhân của hiện tượng kinh tế này là ở một số nước phát triển đã tích lũy được một khối lượng tư bản kếch xù và một bộ phận đã trở thành “tư bản thừa”. Hiện tượng tư bản thừa được V.Lênin luận giải là sự thừa tương đối, theo đó số tư bản thừa được dùng không phải là để nâng cao mức sống của quần chúng trong nước mà là để tăng thêm lợi nhuận bằng cách xuất khẩu tư bản ra nước ngoài, 15 vào những nước “lạc hậu”. Do vậy, ở các nước tư bản xuất hiện nhu cầu tìm nơi đầu tư mới ở nước ngoài - nơi có tỷ suất lợi nhuận cao hơn [35].
Như vậy, xét về mặt lịch sử, FDI xuất hiện khá sớm và đạt tới mức phát triển rất lớn vào nửa đầu thế kỷ XX gắn với những điều kiện kinh tế quốc tế đã chín muồi tạo cơ sở kinh tế cho loại hình này phát triển, nó phản ánh các mối quan hệ kinh tế quốc tế khá phong phú. Chính vì vậy, hình thức đầu tư này đã được các tổ chức quốc tế và thể chế kinh tế toàn cầu đề cập đến. Ủy ban thương mại và phát triển của Liên hiệp quốc (UNCTAD) quan niệm: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động đầu tư bao gồm mối quan hệ dài hạn, phản ánh lợi ích và quyền kiểm soát lâu dài của thực thể thường trú ở một nền kinh tế (nhà đầu tư nước ngoài hoặc công ty mẹ nước ngoài) đối với một doanh nghiệp thường trú ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư nước ngoài (doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh hoặc các chi nhánh nước ngoài )”. Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) định nghĩa, FDI là “Đầu tư có lợi ích lâu dài của một doanh nghiệp tại một nước khác (nước nhận đầu tư) không phải tại nước mà doanh nghiệp hoạt động (nước đi đầu tư) với mục đích quản lý có hiệu quả doanh nghiệp”.
Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa: FDI xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó.