đặt vấn đề CSSKSS của nhóm xã hội này trong một bối cảnh, thời điểm nhất định. Bởi lẽ, hoàn cảnh, điều kiện có tác động chi phối đến hành động của con người, ví dụ khả năng kinh tế đã hạn chế các cá nhân trong việc tiếp cận với các dịch vụ có chất lượng với chi phí cao. Hoặc, điều kiện về địa lý, khoảng cách cũng gây trở ngại cho người dân đến với các cơ sở y tế thường được đặt ở các trung tâm. Lý thuyết tiếp cận Lý thuyết chức năng Lý thuyết chức năng là một lý thuyết xã hội quan trọng, phạm vi bao trùm rộng, mang tính vĩ mô.
Song ở đây, với phạm vi của đề tài nghiên cứu, chúng tôi chỉ sử dụng một phần nhỏ trong quan điểm về lý thuyết chức năng của Merton. Merton cho rằng cấu trúc xã hội là tập hợp các quan hệ xã hội có tổ chức, trong đó các thành viên của xã hội hay nhóm có mối liên quan đa dạng và ông 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cho rằng phép phân tích chức năng cấu trúc tập trung vào các nhóm, các tổ chức xã hội, các thể chế và các nền văn hóa. Bất kỳ một đối tượng nào có thể áp dụng phép phân tích chức năng cấu trúc phải thể hiện một hạng mục đã chuẩn mực hóa (nghĩa là, đã định khuôn mẫu và tính lặp lại nhiều lần). Xét về vấn đề được đề cập đến trong luận văn, gia đình được xem xét với tư cách một thiết chế xã hội và đảm bảo rất nhiều chức năng, phân thành các chức năng sản xuất và các chức năng tái sản xuất.
Nếu như đối với chức năng sản xuất, người đàn ông trong gia đình giữ vai trò chủ đạo, thì người phụ nữ lại là nhân vật chính đảm bảo chức năng tái sản xuất của gia đình. Thực hiện vấn đề CSSKSS chính là họ đang đảm bảo chức năng tái sản xuất của gia đình. Bên cạnh đó, quá trình tái sản xuất được xem như sự sắp đặt hài hòa những vai trò có tính chất bù trừ của nam giới và phụ nữ. Điều này có liên quan đến việc Merton xác định “các chức năng như là những hệ quả quan sát được, được tạo ra cho sự thích nghi và điều chỉnh của một hệ thống xét đến”.
Vậy thì có thể thấy sự phân chia một cách tương đối việc đảm bảo chức năng trong gia đình dẫn tới phần việc và trách nhiệm khá lớn của người phụ nữ trong việc thực hiện chức năng tái sản xuất của gia đình, cụ thể ở đây chính là việc CSSKSS, người phụ nữ phải đảm nhiệm vai trò chính yếu. Trên cơ sở quan điểm cấu trúc chức năng của Merton, trong luận văn này hướng tới việc đánh giá và phân tích tầm quan trọng của người phụ nữ trong việc đảm bảo chức năng tái sản xuất của gia đình thông qua việc CSSKSS vốn được xem như là một chuẩn mực trong xã hội. Lý thuyết vai trò xã hội Vai trò xã hội được hiểu “là sự tập hợp những hành vi, thái độ, quyền lợi và sự bắt buộc mà xã hội mong đợi đối với một vị thế xã hội nhất định và sự thực hiện của cá nhân có vị thế đó” [27]. Vai trò là những đòi hỏi của xã hội đặt ra với các địa vị xã hội.
Những đòi hỏi được xác định căn cứ vào các chuẩn mực xã hội. Trong các xã hội khác nhau thì các chuẩn mực này cũng khác nhau. Vì vậy, cùng một địa vị xã hội, nhưng 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong các xã hội khác nhau thì mô hình hành vi được xã hội trông đợi cũng khác nhau và các vai trò xã hội cũng khác nhau. Nếu như trong xã hội truyền thống – xã hội có tính gia trưởng cao, phụ nữ được giao nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho gia đình, tuy nhiên mức độ quyền hạn của người phụ nữ trong việc ra quyết định (trong đó có các quyết định liên quan đến chăm sóc sức khỏe nói chung và CSSKSS nói riêng) rất hạn chế.
Việc CSSKSS đối với người phụ nữ là rất quan trọng, nhưng họ không có quyền trong việc sinh con, áp dụng các BPTT., mà tất cả vấn đề này lại do quyết định từ phía người chồng. Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, nhiều giá trị, chuẩn mực cũ đã được điều chỉnh, thay đổi, từ đó dẫn đến những đòi hỏi đối với vai trò của người phụ nữ cũng thay đổi và kéo theo địa vị của họ cũng đã có những biến chuyển rất tích cực. Trong quá trình ra quyết định liên quan đến gia đình của mình, tiếng nói của họ có trọng lượng hơn, có ảnh hưởng hơn đối với đời sống gia đình. Cụ thể là họ có quyền hơn trong việc lựa chọn cách chăm sóc sức khỏe, sinh con hay áp dụng các BPTT.
Đây là một biến chuyển tích cực, bởi lẽ việc CSSKSS luôn gắn liền với người phụ nữ. Vận dụng lý thuyết về vai trò xã hội trong đề tài nghiên cứu, chúng tôi muốn nhấn mạnh sự biến đổi vai trò người phụ nữ trong việc CSSKSS trong giai đoạn hiện nay trước những tác động của các nhân tố ảnh hưởng. Lý thuyết hành động xã hội Đây là một lý thuyết xã hội học được vận dụng khá phổ biến trong các nghiên cứu liên quan đến các hành vi của con người/nhóm xã hội nhất định. Nói đến hành động xã hội là nói đến động cơ, điều kiện và phương tiện để thực hiện các mục đích đã định.
Các nhà xã hội học là chủ thuyết hành động xã hội cho rằng các hành vi, hoạt động của con người đều diễn ra trong một bối cảnh xã hội nhất định. Đó là những hành vi có mục đích, có đối tưọng và chịu tác động bởi các bối cảnh xã hội xung quanh. Trong đề tài này, lý thuyết hành động xã hội giúp cho việc phân tích và lý giải các hành vi CSSKSS của nhóm phụ nữ có chồng trong độ tuổi sinh đẻ và các 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com yếu tố tác động đến như văn hoá, xã hội, giáo dục, không gian. Bên cạnh đó, lý thuyết này còn góp phần lý giải mối quan hệ giữa việc thực hành việc CSSKSS với thái độ và kiến thức của nhóm đối tượng được đề cập trong nghiên cứu này.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Điều kiện kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu Cao Bằng là tỉnh miền núi nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam. Phía Bắc và Đông Bắc giáp với tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), với đường biên giới dài 311 km. Phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang.
Phía Nam giáp tỉnh Bắc Kạn và Lạng Sơn [23]. Cao Bằng có diện tích đất tự nhiên 6724,6 km2, là cao nguyên đá vôi xen lẫn núi đất, có độ cao trung bình trên 200m, vùng sát biên có độ cao từ 600 - 1.300m so với mặt nước biển. Mật độ dân số hiện nay là 79 người/km2 [23]. Cao Bằng có 1 thị xã, 12 huyện và 199 xã/phường/thị trấn [24].
Giao thông vào mùa mưa một số nơi không thể đi lại được bằng xe máy, mà phải đi bộ. Ở một số nơi để đi từ trung tâm huyện xuống xã phải mất một ngày đường. Địa bàn rộng, giao thông không thuận lợi làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc cung cấp và sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Theo số liệu thống kê năm 2008, Cao Bằng có dân số trung bình là 528,1 nghìn người.
Trong đó có 11 dân tộc chính cùng sinh sống, đông nhất là dân tộc Tày - Nùng, tiếp đến là dân tộc Mông, Dao, Sán Chỉ và dân tộc Lô Lô… [23]. Cư dân rộng khắp trên địa bàn tỉnh, mỗi dân tộc đều có những nét riêng trong đời sống văn hóa truyền thống. Năm 2008, Cao Bằng có tỷ lệ người nghèo là 16% tập trung ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa. Thu nhập bình quân đầu người một tháng năm 2006 đạt 395 nghìn đồng/tháng, bằng 62,1% so với mức bình quân chung của cả nước [23].
13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Phụ nữ và chăm sóc sức khỏe sinh sản Đối với phụ nữ, quãng thời gian từ 15-49 tuổi là một thời kỳ đặc biệt vì ở giai đoạn này người phụ nữ thực hiện chức năng quan trọng của mình đó là chức năng sinh sản. Theo số liệu điều tra của Tổ chức Y tế thế giới về phụ nữ thế giới năm 2002, dân số thế giới là 6 tỷ, phụ nữ chiếm khoảng 50%, trong đó độ tuổi từ 15- 49 tuổi có chồng chiếm khoảng 16% dân số. Thực tế tỷ lệ này luôn tăng lên theo thời gian, đặc biệt ở các nước đang phát triển.
Theo ước tính từ năm 2002 đến 2020, số phụ nữ 15-49 tuổi ở các nước kém phát triển sẽ tăng lên 24% [34]. Tại Việt Nam, với dân số theo số liệu Tổng điều tra Dân số và Nhà ở 1/4/1999 là 76.919, trong đó tỷ lệ phụ nữ chiếm 50,9%, số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ 15-49 tuổi chiếm 53,5% tổng số phụ nữ và bằng 19% dân số Việt Nam [21]. Như vậy, tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi chiếm một tỷ lệ không nhỏ. Sức khỏe sinh sản là mối quan tâm của cả cuộc đời người phụ nữ bởi sự liên quan và dễ đưa đến những nguy cơ rủi ro về sức khỏe từ tình dục và sinh sản.
Phần lớn gánh nặng sức khỏe của phụ nữ đều liên quan tới tình dục và sinh sản, đặc biệt là đối với phụ nữ trong độ tuổi sinh sản, tỷ lệ này là 40% ở vùng Châu Phi cận Sahara và hơn 20% ở các nước đang phát triển [29]. Những điều kiện liên quan đến sức khỏe sinh sản chiếm một nửa trong số 10 nguyên nhân hàng đầu gây ra gánh nặng bệnh tật cho phụ nữ ở tuổi sinh đẻ. Trong nhiều năm qua, việc quan tâm đến sức khỏe người phụ nữ được đưa lên hàng đầu trong nhiều diễn đàn quốc tế và quốc gia. Nhiều hội nghị của Liên Hiệp Quốc kêu gọi bình đẳng và tạo nhiều cơ hội hơn cho phụ nữ, nhiều chính phủ công nhận sự tiến bộ cho phụ nữ là chìa khóa để đạt được các mục tiêu về sức khỏe và phát triển của xã hội [35], bởi vì phụ nữ là nguồn trực tiếp tái sản xuất ra con người, nguồn nhân lực cho tương lai của bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới [31].
Nhưng hiện nay, chúng ta vẫn chưa thực sự quan tâm đúng mức đến CSSKSS để người phụ nữ thực hiện chức năng sinh sản một cách an toàn. Hàng năm trên thế giới có khoảng gần 580.000 phụ nữ tử vong có liên quan đến thai 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.