Luận văn thạc sĩ khoa học thư viện xây dựng và phát triển thư viện trường đại học công nghiệp hà nội trong giai đoạn đổi mới đất nước

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu xây dựng và phát triển thư viện tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội trong bối cảnh đổi mới đất nước.

Chuyên ngành

Khoa học Thư viện

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2006

92
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh xây dựng thư viện ĐH Công nghiệp Hà Nội đổi mới

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn đổi mới, việc xây dựng và phát triển thư viện Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội đóng vai trò chiến lược. Đây không chỉ là nơi lưu trữ tri thức mà còn là trung tâm thông tin, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Luận văn thạc sĩ khoa học thư viện của tác giả Lê Ngọc Diệp (2006) đã cung cấp một cái nhìn sâu sắc về quá trình này. Sự phát triển của thư viện gắn liền với lịch sử của trường, từ một tủ sách nhỏ khi còn là trường đào tạo công nhân kỹ thuật, đến khi trở thành Trung tâm Thông tin Thư viện vào năm 2005. Quá trình này thể hiện sự nhận thức đúng đắn của ban lãnh đạo về tầm quan trọng của nguồn lực thông tin trong việc nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học. Nhiệm vụ trọng tâm của thư viện là đảm bảo cung cấp thông tin, tài liệu đầy đủ, chính xác và kịp thời cho cán bộ, giảng viên và sinh viên. Để làm được điều đó, thư viện phải liên tục cập nhật, ứng dụng khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin (CNTT), nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dùng.

1.1. Vai trò của thư viện trong sự nghiệp công nghiệp hoá

Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội (ĐHCNHN), với lịch sử hình thành từ năm 1898, luôn là một trong những cơ sở đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật hàng đầu. Trong giai đoạn đổi mới, để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhà trường đã không ngừng mở rộng quy mô và đa dạng hóa ngành nghề đào tạo. Thư viện, trong bối cảnh đó, trở thành một bộ phận không thể thiếu, một đòn bẩy quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạo. Nhiệm vụ của thư viện không còn gói gọn trong việc cho mượn sách, mà phải trở thành một trung tâm thông tin năng động. Thư viện phải đảm bảo cung cấp nguồn lực thông tin phong phú, từ giáo trình, sách tham khảo chuyên ngành cơ khí, điện tử, CNTT đến các tài liệu về kinh tế, pháp luật. Việc này trực tiếp hỗ trợ giảng viên trong công tác biên soạn bài giảng và nghiên cứu, đồng thời giúp sinh viên tiếp cận những tri thức mới nhất, phục vụ quá trình tự học, tự nghiên cứu.

1.2. Phân tích nhu cầu tin của cán bộ và sinh viên

Để hoạt động hiệu quả, việc nghiên cứu nhu cầu tin của người dùng là yêu cầu cấp thiết. Tại Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội, người dùng tin được chia thành các nhóm chính: cán bộ lãnh đạo, giảng viên, công nhân viên và học sinh, sinh viên. Mỗi nhóm có những đòi hỏi thông tin khác nhau. Cán bộ lãnh đạo cần thông tin mang tính tổng hợp, dự báo về quản lý giáo dục và các văn bản của nhà nước. Giảng viên yêu cầu thông tin chuyên sâu, cập nhật liên quan đến ngành giảng dạy. Sinh viên là nhóm đông đảo nhất, có nhu cầu lớn về giáo trình, tài liệu tham khảo cơ bản để phục vụ học tập. Theo khảo sát trong luận văn, các lĩnh vực được quan tâm hàng đầu là Cơ khí (88,09%), CNTT (86,50%), và Kỹ thuật điện (84,92%). Điều này cho thấy nhu cầu thông tin tập trung mạnh vào các ngành đào tạo trọng điểm của trường. Việc nắm bắt chính xác nhu cầu tin là cơ sở để thư viện xây dựng chiến lược phát triển vốn tài liệu và dịch vụ phù hợp.

II. Thách thức trong phát triển thư viện ĐHCNHN giai đoạn đầu

Quá trình xây dựng và phát triển thư viện Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội trong giai đoạn 2001-2005 đã đạt được những thành tựu ban đầu, nhưng cũng đối mặt với không ít thách thức. Thực trạng được phân tích trong luận văn cho thấy những điểm yếu cần khắc phục để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của một trường đại học đa ngành. Về mặt tổ chức, phương thức quản lý hành chính còn cứng nhắc, thiếu linh hoạt, làm giảm tính tự chủ và chưa phát huy hết tiềm năng của đội ngũ cán bộ. Về nhân sự, trình độ chuyên môn, ngoại ngữ và tin học chưa đồng đều, đặc biệt thiếu nhân sự chuyên trách về CNTT. Về chuyên môn, công tác xử lý nghiệp vụ còn nhiều hạn chế, hệ thống mục lục chưa được bảo trì thường xuyên, và việc ứng dụng phần mềm quản lý thư viện chưa triệt để. Các sản phẩm và dịch vụ thông tin còn đơn điệu, chủ yếu là dịch vụ truyền thống. Những thách thức này đòi hỏi phải có một hệ thống giải pháp đồng bộ và khoa học để đưa thư viện phát triển lên một tầm cao mới.

2.1. Thực trạng cơ cấu tổ chức và quản lý nhân sự

Mặc dù đã hình thành các bộ phận chức năng, cơ cấu tổ chức của thư viện vẫn bộc lộ nhiều bất cập. Luận văn chỉ rõ việc thiếu một bộ phận chuyên trách về hỗ trợ công nghệ, quản trị mạng. Điều này khiến việc bảo trì, khắc phục sự cố máy tính và hệ thống mạng gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động tra cứu của bạn đọc. Về quản lý nhân sự, một thách thức lớn là tình trạng điều động cán bộ thư viện tham gia công tác tuyển sinh trong thời gian dài (có lúc lên đến 9/17 người), gây bị động và đôi khi phải đóng cửa một số phòng phục vụ. Bên cạnh đó, trình độ của đội ngũ cán bộ chưa đồng đều, phần lớn đang trong quá trình học văn bằng hai chuyên ngành thư viện. Sự thiếu hụt nhân sự có chuyên môn sâu về các ngành kỹ thuật của trường như cơ khí, điện tử cũng là một rào cản trong việc tư vấn và bổ sung tài liệu chuyên ngành.

2.2. Hạn chế về nguồn lực thông tin và cơ sở vật chất

Về nguồn lực thông tin, cơ cấu vốn tài liệu chưa thực sự cân đối. Tài liệu tập trung chủ yếu vào các ngành truyền thống, trong khi các ngành mới như Hóa học, Dệt may-Thời trang còn hạn chế. Nguồn tài liệu ngoại văn và các cơ sở dữ liệu trực tuyến chưa được quan tâm đầu tư đúng mức, làm giảm khả năng tiếp cận thông tin khoa học tiên tiến của thế giới. Một điểm yếu quan trọng khác là việc quản lý nguồn tin nội sinh (luận văn, báo cáo khoa học) chưa được thực hiện bài bản. Về cơ sở vật chất, dù đã được đầu tư, thư viện vẫn thiếu các thiết bị quan trọng như máy photocopy, máy đóng xén sách, gây khó khăn cho việc sao chụp và bảo quản tài liệu. Hệ thống mạng cáp quang hoạt động chưa ổn định do phải kết nối qua một đơn vị trung gian, thường xuyên gây gián đoạn truy cập.

III. Giải pháp tối ưu nguồn lực cho thư viện ĐH Công nghiệp HN

Để giải quyết các thách thức, luận văn đã đề xuất một hệ thống giải pháp toàn diện nhằm hoàn thiện tổ chức và hoạt động, góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển thư viện Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội. Trọng tâm của các giải pháp này là tối ưu hóa các nguồn lực cốt lõi: vốn tài liệu, con người và tài chính. Cần phải xây dựng một chiến lược phát triển hoạt động thư viện rõ ràng, phù hợp với mục tiêu chung của nhà trường. Việc đổi mới cơ cấu tổ chức và quản lý theo hướng linh hoạt hơn là yêu cầu cấp thiết. Song song đó, việc tăng cường và đa dạng hóa nguồn lực thông tin phải được xem là nhiệm vụ hàng đầu. Phát huy nhân tố con người thông qua đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ và kỹ năng là chìa khóa để nâng cao chất lượng phục vụ. Các giải pháp này khi được triển khai đồng bộ sẽ tạo ra một sự thay đổi căn bản về chất cho hoạt động của thư viện.

3.1. Chiến lược bổ sung và đa dạng hoá vốn tài liệu

Giải pháp đầu tiên và quan trọng nhất là tăng cường nguồn lực thông tin. Thư viện cần xây dựng chính sách bổ sung tài liệu một cách khoa học, đảm bảo cân đối giữa các ngành đào tạo, đặc biệt ưu tiên cho các ngành mới. Cần đa dạng hóa các loại hình tài liệu, không chỉ sách in mà còn phải chú trọng phát triển tài liệu điện tử, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, băng đĩa, tài liệu nghe nhìn. Theo luận văn, việc mua các CSDL trực tuyến và CD-ROM là cần thiết để bắt kịp xu thế của các thư viện đại học hiện đại. Ngoài ra, thư viện phải xây dựng quy chế thu nhận, lưu chiểu các sản phẩm khoa học nội sinh như luận văn, đồ án tốt nghiệp, báo cáo khoa học của cán bộ và sinh viên trong trường. Đây là nguồn tài liệu xám vô cùng quý giá, phản ánh năng lực nghiên cứu của Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội.

3.2. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thư viện chuyên nghiệp

Nhân tố con người quyết định sự thành công của mọi hoạt động. Do đó, việc phát triển đội ngũ cán bộ thư viện là một giải pháp then chốt. Cần có kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng thường xuyên để nâng cao trình độ chuyên môn, ngoại ngữ và kỹ năng tin học cho cán bộ. Luận văn đề xuất việc tổ chức các lớp tập huấn về ứng dụng CNTT trong công tác thư viện, kỹ năng tìm kiếm thông tin trên Internet, và quản trị các CSDL hiện đại. Bên cạnh đó, cần tuyển dụng bổ sung nhân sự có chuyên môn về CNTT để quản trị hệ thống mạng và nhân sự có nền tảng kiến thức về các ngành kỹ thuật của trường. Việc này không chỉ giúp hệ thống vận hành ổn định mà còn nâng cao chất lượng của công tác biên mục, phân loại và tư vấn thông tin chuyên sâu cho bạn đọc.

IV. Phương pháp hiện đại hoá sản phẩm và dịch vụ thông tin

Bước vào kỷ nguyên số, việc hiện đại hóa là con đường tất yếu để xây dựng và phát triển thư viện Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội một cách bền vững. Các giải pháp không chỉ dừng lại ở việc nâng cấp tài nguyên mà còn phải tập trung vào đổi mới sản phẩm và dịch vụ thông tin. Thư viện cần chuyển mình từ mô hình truyền thống sang một trung tâm thông tin hiện đại, hướng tới người dùng. Điều này đòi hỏi phải đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào mọi khâu hoạt động, từ xử lý nghiệp vụ, quản lý bạn đọc đến cung cấp dịch vụ. Việc phát triển các sản phẩm điện tử và dịch vụ trực tuyến sẽ giúp thư viện vượt qua rào cản về không gian và thời gian, phục vụ người dùng một cách hiệu quả và tiện lợi hơn. Đồng thời, công tác đào tạo người dùng tin và marketing thư viện cũng cần được chú trọng để tối đa hóa hiệu quả sử dụng các nguồn lực đã đầu tư.

4.1. Đẩy mạnh ứng dụng CNTT và xây dựng cơ sở dữ liệu số

Nền tảng của hiện đại hóa là ứng dụng CNTT. Thư viện cần hoàn thiện và khai thác triệt để các module của phần mềm quản lý thư viện tích hợp, tiến tới tự động hóa các khâu công tác từ bổ sung, biên mục đến lưu thông, quản lý bạn đọc. Quan trọng hơn, thư viện phải tập trung vào việc xây dựng cơ sở dữ liệu. Ngoài CSDL sách hiện có, cần nhanh chóng triển khai xây dựng CSDL bài trích báo, tạp chí; CSDL toàn văn các luận văn, báo cáo khoa học. Việc số hóa các tài liệu quý hiếm, giáo trình nội bộ cũng là một hướng đi cần thiết. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng một cổng thông tin thư viện duy nhất, nơi người dùng có thể truy cập vào tất cả các nguồn lực thông tin của thư viện, bao gồm mục lục tra cứu (OPAC), các CSDL nội sinh và các CSDL trực tuyến đã mua.

4.2. Phát triển dịch vụ thông tin đáp ứng yêu cầu người dùng

Trên nền tảng công nghệ, thư viện cần phát triển các dịch vụ thông tin hiện đại. Thay vì chỉ cung cấp dịch vụ đọc tại chỗ và mượn về nhà, cần triển khai các dịch vụ giá trị gia tăng như: cung cấp thông tin theo yêu cầu, biên soạn các bản tin chuyên đề, tổng luận khoa học. Dịch vụ tra cứu Internet cần được nâng cấp, đi kèm với việc hướng dẫn người dùng các kỹ năng tìm kiếm và đánh giá thông tin hiệu quả. Luận văn cũng đề xuất việc tổ chức các buổi giới thiệu, hướng dẫn sử dụng thư viện định kỳ cho sinh viên năm nhất. Công tác marketing, quảng bá hình ảnh thư viện qua website của trường, các bảng tin, poster cần được thực hiện thường xuyên để thu hút bạn đọc và giới thiệu các sản phẩm và dịch vụ thông tin mới, giúp người dùng khai thác tối đa tiềm năng của thư viện.

27/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Thư viện Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội trong giai đoạn đổi mới đất nước Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của thư viện Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội Chương 3: Hoàn thiện tổ chức và hoạt động thư viện đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ đào tạo của Nhà trường trong giai đoạn đổi mới đất nước CHUONG 1. THU’ VIEN TRUONG DAI HQC CO! NGHIEP HA NOI TRONG GIAI DOAN DOI MOI DAT NUGC 1. Trường Dai học Công nghiệp Hà Nội với sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Vài nét về trường Đại học Công nghiệp Hà Nội Ngày 02/12/2005 Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 315/2005 QĐ/TTg thành lập Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội trên cơ sở Trường Cao dang Công nghiệp Hà Nội.

Trường Cao đẳng Công nghiệp Hà Nội được thành lập ngày 28/5/1999. theo Quyết định số 126/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, trên cơ sở Trường, Trung học Công nghiệp L. Trường Trung học Công nghiệp I là sự hợp thành của hai trường: Kỹ nghệ thực hành Hà Nội và Trường Công nhân kỹ thuật I theo Quyết định số 580/QD-TCCB ngay 22/4/1997 của Bộ Công nghiệp. Trường Công nhân kỹ thuật I có tiền thân là Trường Kỹ nghệ thực hành Hải Phòng do người Pháp thành lập năm 1913 và Trường Kỹ nghệ thực hành Hà Nội có tiền thân là Trường Chuyên nghiệp Hà Nội được thành lập ngày 10/8/1898 theo Quyết định của Phòng Thương mại Hà Nội-là trường chuyên nghiệp đầu tiên của nước Việt Nam.

*Kết quả đào tạo Chỉ tính từ năm 1954 đến nay, Trường đã đào tạo cho đất nước hơn 50 ngàn công nhân kỹ thuật, cán bộ kỹ thuật, kỹ sư thực hành và giáo viên dạy nghề, ngoài ra còn làm nhiệm vụ quốc tế cho hai nước bạn Lào và Campuchia. Kết quả đào tạo trong giai đoạn 2001 đến 2005 Tig dio tao Số lượng sinh viên tuyến mới Năm 2001 [ Năm2002 [ Năm 2003 | Năm 2004 | Năm 2005 Cao ding chink quy | 2736 2431 2556 2684 2629 'Cao đăng liên thông. 324 s95 Cao ding tại chức 679) 350 381 59 bởi 'Cao đăng du học 320 350 288 350 679) Trung học 1316 1776 TT 1588 1951 ‘Cong nban ky thugt | 2209 2347 1683 1976 2329 Tong: 7260 7454 6879 7720 9058 Đến nay, Trường đã đào tạo được 7 khoá Cao đẳng chính quy, 4 khoá Cao đẳng tại chức, 52 khoá Trung học và Công nhân kỹ thuật, 4 khoá Công. nhân kỹ thuật cao theo công nghệ Nhật bản, 3 khoá Cao đẳng liên thông từ THCN lên Cao đẳng, 6 khoá Cao đẳng du học tại chỗ; thường xuyên mở các lớp đào tạo nghề ngắn hạn và nghiệp vụ sư phạm cho cá nhân và các doanh nghiệp, tổ chức.

Trong năm học 2006-2007 Nhà trường sẽ tiến hành tuyển sinh và đào tạo Hệ đại học sau khi Trường được nâng cấp lên Đại học và được giao chỉ tiêu đảo tạo *Cơ cấu tô chức Trường hiện nay Hiệu trưởng, các Phó Hiệu trưởng; Các Hội đồng tư vấn, Hội đồng khoa học và đào tạo; 8 Phòng, Ban chức năng; 17 Khoa đảo tạo; 8 Trung tâm, Công ty đào tạo và phục vụ đảo tạo. Tổng số cán bộ, giáo viên, công nhân viên là 680 người, trong đó giáo viên là 590, giáo viên có trình độ trên đại học là 267 (45%) người (tính đến 31/12/2005)[26] 1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Trường — ra vin aE] | =] *Ngành nghề đào tạo -Hệ Đại học 1.Công nghệ kỹ thuật Cơ khí 7.Công nghệ Cơ điện điện tử 8.Quan tri kinh doanh 3.Công nghệ kỹ thuật Ô tô 9.Công nghệ kỹ thuật Nhiệt-Lạnh 4.Công nghệ kỹ thuật Điện 10.Công nghệ Hóa học 5.Công nghệ kỹ thuật Điện tử 11.Khoa học máy tính 12 -Hệ Cao đẳng 1.Chế tạo may 10.Sư phạm kỹ thuật Cơ khí 3.Sư phạm kỹ thuật Tin 4.Hoá phân tích 12.Sư phạm kỹ thuật Điện - Điện tir 5.Thiết kế thời trang 6.Công nghệ May 14.Công nghệ thông tin 7.Cơ khí động lực 8.Quản trị kinh doanh 16.Kỳ thuật nhiệt -Hệ Trung cấp chuyên nghiệp Cơ khí chế tạo, Sửa chữa các thiết bị cơ khí, Sửa chữa Ô tô - xe máy, Điện công nghiệp và dân dụng, Điện tử, Tin học, Hạch toán kế toán, Nhiệt công nghiệp, Hoá vô cơ, Hoá hữu cơ và chế phẩm, Hoá phân tích, Kỹ thuật công nghệ may. -Hệ Công nhân kỹ thuật Hàn điện, Tiện, Phay, Nguội chế tạo, Sửa chữa máy công cụ, Sửa chữa Ô tô-xe máy, Điện xí nghiệp và dân dụng, Điện tử, Sửa chữa và vận hành máy lạnh, Sản xuất các chất vô cơ, Kiểm tra và phân tích hoá chất, Gia công chất dẻo từ Polime, Gia công chất dẻo từ cao su, Kỹ thuật may. - Hệ Công nhân kỹ thuật sử dụng kỹ thuật công nghệ Nhật bản +Cắt gọt kim loại (Tiện, phay, mài, gia công trên máy CNC.

+Gia công kim lo; tấm ( Hàn TIG, MIG, MAG, Hỗ quang, uốn, cắt) +Điều khiển Điện - Điện tử (PLC, Điều khiển tuần tự.Quá trình đổi mới của Trường Đại học Công nghiệp Hà giai đoạn 2001-2005 với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định: “Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu” [I, tr35]; đặt ra những yêu cầu và nhiệm vụ mới cho sự nghiệp giáo dục và đảo tạo của đất nước: “Để đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cần tạo chuyển biến cơ bản, toàn điện về giáo dục và đào tạo” [I, tr.201] “Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2, Trung ương 4 khoá VIII, những kết luận của Hội nghị Trung ương 6 khoá IX, thực hiện xã hội hoá giáo dục, tận dụng tốt mọi nguồn lực, Nhà trường đã nỗ lực phấn đầu và bước đầu thu được những kết quả quan trọng. Loại hình đào tạo ngày càng đa dạng và phong phú, ngoài 3 hệ đào tạo tập trung với I1 ngành Cao đẳng, 10 ngành Trung học chuyên nghiệp, 9 nghề công nhân bao gồm 63 mục tiêu, Trường còn hợp tác đào tạo với Australia đào tạo Du học tại chỗ hai ngành Công nghệ phần mềm và kế toán tin; Đào. tạo công nhân kỹ thuật theo chương trình của dự án JICA-HIC; Đào tạo ngắn. hạn và đào tạo lao động xuất khẩu.

Phát triển và mở rộng đào tạo Cao đẳng tại chức tại các tỉnh với số lượng trên 1000 sinh viên. Đã và đang chuẩn bị đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, chương trình đào tạo và các điều kiện khác cho. ngành cắt may và công nghệ hoá chất. Từ đầu năm 2003 thực hiện tuyển sinh dao tạo liên thông từ Trung học lên Cao đẳng, Để đáp ứng yêu cầu phát triển da dang về loại hình và tăng quy mô đào.

tạo, Nhà trường không ngừng đổi mới nội dung, chương trình đào tạo các ngành, nghề, hoàn thiện gần 60 mục tiêu chương trình, xây dựng Mục tiêu chương trình đảo tạo liên thông Trung học lên Cao đẳng. Cùng chuyên gia 14 Nhật Bản xây dựng Mục tiêu đảo tạo Công nhân kỹ thuật cao cho 3 nghé: Cit gọt kim loại; Gia công kim loại tắm; Điều khiển Điện - Điện tử. Điều chỉnh chương trình khung của 16 ngành Cao đẳng, 14 ngành THCN, 17 nghề CNKT theo quy định mới của Bộ GD&ÐT và TCDN. +Biên soạn mới 286 chương trình cho các ngành CĐ, THCN, CNKT nghề Hoá, Cắt may, Cơ khí.

+Chinh lý 412 chương trình ngành Cơ khí, Điện tử, Tin học, Tiếng Anh. +Đã in 111 chương trình CĐ, THCN, CNKT nghề Hoá, Cắt may, Cơ khí. +Biên soạn mới 149 giáo trình các môn học ngành Hoá, GCKLT, Cơ khí +In 69 giáo trình các môn học Cơ khí, Hoá, GCKLT, Điều khiển điện. +Chinh lý 3 dé cương bài giảng Vật lý A1, A2, Sức bền vật liệu đảo tạo cho hệ THCN, CNKT.

Đồng thời, tăng cường bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viên. Vì vậy số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên không ngừng tăng lên. Năm 2003 giáo viên có trình độ trên đại học mới chiếm tỷ lệ 29 % thì đến tháng 12/2005 là 45%, +Mở rộng liên kết đào tạo Cao đẳng sư phạm kỹ thuật với các tỉnh miễn núi phía Bắc: Lai Châu, Điện Biên phủ; Cao Bằng; Bắc Cạn; Lạng Sơn Nhằm bổ sung lực lượng giáo viên giảng dạy các môn kỹ thuật công nghiệp trong các trường phổ thông hoặc dạy nghề trong các Trung tâm hướng nghiệp hoặc các trường dạy nghề của các tỉnh đó. Bên cạnh đó, mở rộng liên kết đào tạo Cao đẳng tại chức với các địa phương nhằm giúp họ đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ.

Trường đã liên kết đảo tạo với các tỉnh như: Lào Cai, Tuyên Quang, Thanh Hoá, Nghệ An. Ngoài ra, Trường còn mở các lớp tại trường hoặc tại các doanh nghiệp để đào tạo lại hoặc chuyển giao công nghệ. cho cán bộ, công nhân viên, giáo 15 viên ở các cơ sở sản xuất, các trường bạn giúp họ trong khâu chuẩn hoá cán bộ, chuẩn hoá giáo viên. ~Xin mở thêm 4 ngành đào tạo hệ CÐ (Công nghệ cắt may, thiết kế thời trang, Quản trị kinh doanh, Gia công chất dẻo từ cao su).

~Xin mở thêm 4 ngành đào tạo liên thông từ THCN lên CÐ (Công nghệ cắt may, kế toán, quản trị kinh doanh, công nghệ hoá). -Xây dựng mục tiêu chương trình khung đảo tạo 15 ngành đại học: Công nghệ kỹ thuật cơ khí; Công nghệ kỹ thuật ô tô; Công nghệ kỹ thuật điện; Công nghệ kỹ thuật điện tử; Khoa học máy tính; Kế toán; Quản trị kinh doanh; Công nghệ nhiệt lạnh; Công nghệ hoá; Tiếng Anh; Cơ điện tử; Sư phạm kỹ thuật cơ khí; Sư phạm kỹ thuật tin học; Sư phạm kỹ thuật điện; Sư phạm kỹ thuật điện tử. -Tiếp nhận và hoàn thành Dự án tăng cường khả năng đào tạo công nhân kỹ thuật (1/4/2000 đến 31/3/2005), chương trình hợp tác kỹ thuật giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Nhật Bản. Qua Dự án Trường đã tiếp nhận thiết bị đồng bộ, tiên tiến cho đào tạo 3 nghề: CGKL, GCKLT, ĐKĐ trị giá gần 50 tỷ đồng.

Hơn 20 giáo viên của Trường đã được học tập tại Nhật Bản và các nước tiên tiến. Gần 30 giáo viên được nhận chuyển giao công nghệ trực tiếp từ các chuyên gia Nhật Bản. Tổ chức đảo tạo được 4 khoá cho gần 1200 học sinh, tổ chức đảo tạo gần 150 khoá ngắn hạn cho trên 2000 lượt học viên là giáo viên, công nhân, học sinh. Đào tạo giáo viên cho các trường nghề của Lào, Campuchia.

-Hợp tác đào tạo du học tại chỗ Việt ~Úc: Thong qua hợp tác đảo tạo đã giúp được 20 giáo viên tiếp cận với công nghệ đào tạo mới và thường xuyên cập nhật chương trình đào tạo tiên tiến.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ