Luận văn thạc sĩ khoa học thư viện tổ chức quản lý hoạt động của hệ thống thư viện trường phổ thông trên địa bàn tỉnh thanh hóa

Luận văn thạc sĩ phân tích thư viện tổ chức quản lý hoạt động của hệ thống thư viện trường phổ thông trên địa bàn tỉnh thanh, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải

Chuyên ngành

Khoa học thư viện

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2006

126
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Vai trò cốt lõi của tổ chức quản lý thư viện phổ thông Thanh Hóa

Hệ thống thư viện trường phổ thông đóng vai trò là một yếu tố cấu thành chất lượng giáo dục, là trung tâm thông tin văn hóa không thể thiếu trong môi trường học đường tại tỉnh Thanh Hóa. Luận văn thạc sĩ khoa học thư viện của tác giả Trương Thị Hiền đã khẳng định, việc tổ chức quản lý hoạt động của hệ thống thư viện trường phổ thông hiệu quả là nền tảng để nâng cao chất lượng dạy và học. Trong bối cảnh đổi mới giáo dục theo Nghị quyết 40 Quốc hội khóa X, nhu cầu về sách, báo, tài liệu tham khảo tăng cao, đòi hỏi thư viện phải phát huy tối đa vai trò của mình. Một hệ thống thư viện được tổ chức bài bản không chỉ cung cấp tài liệu mà còn góp phần xây dựng thói quen tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, đồng thời bồi dưỡng kiến thức chuyên môn cho đội ngũ giáo viên. Thực tế tại Thanh Hóa, những trường có phong trào thư viện phát triển mạnh như THPT Lam Sơn, Tiểu học Ba Đình đều cho thấy chất lượng giáo dục tăng lên rõ rệt. Việc đầu tư toàn diện từ con người đến cơ sở vật chất, trang thiết bị cho thư viện chính là đầu tư cho sự phát triển bền vững của ngành giáo dục tỉnh nhà. Do đó, nghiên cứu về tổ chức quản lý hoạt động thư viện không chỉ mang ý nghĩa lý luận mà còn có giá trị thực tiễn sâu sắc, định hướng phát triển cho toàn hệ thống trong tương lai.

1.1. Tầm quan trọng của thư viện trong nâng cao chất lượng giáo dục

Thư viện trường phổ thông được xem là “một bộ phận cơ sở vật chất trọng yếu, là trung tâm sinh hoạt văn hoá và khoa học của nhà trường”. Vai trò này không chỉ dừng lại ở việc lưu trữ sách. Nó là tác nhân trực tiếp khơi nguồn và thỏa mãn nhu cầu về thông tin, tri thức cho cả người dạy và người học. Đối với giáo viên, thư viện là nơi cập nhật kiến thức, tiếp cận phương pháp giảng dạy tiên tiến qua các sách nghiệp vụ, tài liệu chuyên ngành. Đối với học sinh, đây là không gian để mở rộng kiến thức ngoài sách giáo khoa, rèn luyện tư duy độc lập và thói quen tự học. Luận văn chỉ rõ, thư viện tham gia tích cực vào việc “bồi dưỡng tư tưởng chính trị và xây dựng nếp sống văn hoá mới”, góp phần hình thành môi trường văn hóa học đường lành mạnh. Sự phát triển của thư viện tỷ lệ thuận với chất lượng giáo dục, thể hiện qua tỷ lệ học sinh khá giỏi và thành tích trong các kỳ thi.

1.2. Quá trình hình thành từ Tủ sách dùng chung đến hệ thống thư viện

Lịch sử phát triển của hệ thống thư viện trường phổ thông tại Thanh Hóa bắt nguồn từ những mô hình sơ khai như “Tủ sách Nguyễn Tất Thành” trong những năm tháng chiến tranh. Phong trào này đã lan rộng, trở thành nền tảng cho việc xây dựng thư viện chính quy sau này. Dựa trên các văn bản pháp lý như Quyết định 288/QĐ và 947/QĐ của Bộ Giáo dục (cũ), hệ thống thư viện dần được hình thành. Ban đầu, các trường chủ yếu xây dựng tủ sách dùng chung, đặc biệt là tủ sách giáo khoa, để đảm bảo mọi học sinh đều có đủ tài liệu học tập. Dần dần, các mô hình phát triển đa dạng hơn, bao gồm thư viện hoàn chỉnh và Phòng học liệu (PHL) ở cấp tiểu học. Mô hình PHL là một bước tiến quan trọng, tích hợp sách và thiết bị dạy học, tạo ra không gian học tập tương tác, trực quan, phù hợp với tâm lý lứa tuổi học sinh tiểu học và xu hướng đổi mới phương pháp giáo dục.

II. Phân tích thực trạng quản lý hệ thống thư viện phổ thông Thanh Hóa

Mặc dù đã có những bước phát triển đáng kể, công tác tổ chức quản lý hoạt động của hệ thống thư viện trường phổ thông trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế. Luận văn của Trương Thị Hiền đã chỉ ra một thực trạng đáng lo ngại: sự thiếu đồng bộ trong chỉ đạo và quản lý từ cấp tỉnh đến cơ sở. Sự phân công trách nhiệm chưa rõ ràng giữa các cơ quan đã dẫn đến hoạt động của hệ thống thư viện còn rời rạc, mang tính cục bộ và kém hiệu quả. Thanh Hóa, với địa bàn rộng và phức tạp, bao gồm cả đồng bằng, miền núi, càng làm cho những khó khăn này trở nên trầm trọng hơn. Nhiều trường, đặc biệt ở vùng sâu vùng xa, chưa có thư viện đạt chuẩn, thậm chí chỉ có tủ sách dùng chung với nguồn tài liệu nghèo nàn. Đội ngũ cán bộ thư viện phần lớn là giáo viên kiêm nhiệm, chưa được đào tạo bài bản về nghiệp vụ. Nguồn kinh phí hoạt động chủ yếu trông chờ vào ngân sách nhà nước, thường xuyên chậm và không đủ đáp ứng nhu cầu bổ sung tài liệu và trang thiết bị. Những bất cập này đòi hỏi một cái nhìn toàn diện và các giải pháp chiến lược để tháo gỡ.

2.1. Bất cập trong bộ máy tổ chức và cơ chế quản lý các cấp

Thực trạng cho thấy bộ máy tổ chức quản lý thư viện còn nhiều chồng chéo. Ở cấp tỉnh, Sở Giáo dục và Đào tạo là cơ quan quản lý cao nhất, nhưng việc chỉ đạo trực tiếp xuống các trường còn hạn chế. Ở cấp huyện, Phòng Giáo dục quản lý các trường tiểu học và THCS, nhưng cán bộ phụ trách thường là kiêm nhiệm. Điều này dẫn đến việc triển khai các kế hoạch, văn bản chỉ đạo về công tác thư viện còn chậm và thiếu tính quyết liệt. Luận văn nhận định: “sự phân công tổ chức quản lý, chỉ đạo chưa rõ ràng; chưa có tính chiến lược cao”. Cơ chế quản lý vẫn mang nặng tính bao cấp, các trường phụ thuộc lớn vào ngân sách, thiếu chủ động trong việc huy động các nguồn lực xã hội hóa để phát triển thư viện.

2.2. Hạn chế về cơ sở vật chất trang thiết bị và nguồn kinh phí

Một trong những rào cản lớn nhất là sự thiếu thốn về cơ sở vật chất và kinh phí. Theo khảo sát, nhiều trường phổ thông tại Thanh Hóa chưa có phòng thư viện riêng biệt, phải bố trí chung với các phòng chức năng khác. Trang thiết bị như giá, tủ, bàn ghế còn sơ sài, chưa đáp ứng tiêu chuẩn. Nguồn kinh phí cho hoạt động thư viện chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước, được phân bổ theo Thông tư 30/TT-LB, nhưng thực tế số tiền cấp về thường không đủ và không kịp thời. Việc trích một phần học phí hay các nguồn thu khác cho thư viện chưa được thực hiện đồng bộ. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến việc bổ sung sách mới, đặc biệt là sách tham khảo, khiến kho tài liệu trở nên lạc hậu, không đáp ứng được nhu cầu của chương trình giáo dục đổi mới.

2.3. Thiếu hụt đội ngũ cán bộ thư viện chuyên trách trình độ cao

Yếu tố con người giữ vai trò quyết định, nhưng đội ngũ cán bộ thư viện tại Thanh Hóa lại là một điểm yếu lớn. Hầu hết các trường, trừ những trường đã đạt chuẩn quốc gia, không có biên chế cán bộ thư viện chuyên trách. Công tác này thường do giáo viên các môn khác kiêm nhiệm, không được đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ thư viện. Theo quy định, giáo viên phụ trách thư viện phải được bồi dưỡng nghiệp vụ nhưng trên thực tế, số lượng được đào tạo bài bản còn rất ít. Sự thiếu hụt nhân sự chuyên trách dẫn đến việc các hoạt động chuyên môn như phân loại, biên mục, tổ chức hoạt động bạn đọc, giới thiệu sách... không được thực hiện chuyên nghiệp, làm giảm hiệu quả hoạt động của thư viện.

III. Giải pháp kiện toàn cơ cấu tổ chức thư viện trường phổ thông

Để khắc phục những tồn tại, giải pháp hàng đầu được đề xuất trong luận văn là kiện toàn cơ cấu tổ chức và tăng cường công tác quản lý hệ thống thư viện trường phổ thông. Đây là bước đi nền tảng nhằm tạo ra một cơ chế vận hành thông suốt, hiệu quả từ cấp tỉnh đến từng trường học. Việc kiện toàn không chỉ dừng lại ở việc phân công lại nhiệm vụ mà còn là xây dựng một lộ trình phát triển chiến lược, có tầm nhìn dài hạn. Cần phải phân định rõ ràng trách nhiệm của Sở Giáo dục và Đào tạo, các Phòng Giáo dục và Ban Giám hiệu nhà trường. Tại mỗi trường, việc thành lập Tổ công tác thư viện theo Quyết định 61/1998/QĐ/BGD&ĐT là bắt buộc. Tổ này, do Hiệu trưởng hoặc Phó Hiệu trưởng làm tổ trưởng, sẽ là hạt nhân điều phối mọi hoạt động, từ xây dựng kế hoạch, huy động nguồn lực đến tổ chức các sự kiện bạn đọc. Một bộ máy tổ chức tinh gọn, hoạt động hiệu quả sẽ là tiền đề để các giải pháp khác về chuyên môn, tài chính và cơ sở vật chất được triển khai thành công, góp phần nâng cao chất lượng hệ thống thư viện toàn tỉnh.

3.1. Phân định rõ trách nhiệm quản lý giữa Sở Phòng Giáo dục

Giải pháp cốt lõi là xây dựng một cơ chế phối hợp và phân định trách nhiệm mạch lạc. Sở Giáo dục và Đào tạo cần giữ vai trò chủ đạo trong việc ban hành các văn bản hướng dẫn, xây dựng đề án tổng thể và tổ chức các đợt thanh tra, kiểm tra định kỳ. Các Phòng Giáo dục là đơn vị quản lý trực tiếp, có nhiệm vụ triển khai, giám sát và báo cáo tình hình hoạt động của các thư viện trường tiểu học và trung học cơ sở trên địa bàn. Cần có chuyên viên phụ trách công tác thư viện chuyên trách ở cả hai cấp để đảm bảo sự chỉ đạo được xuyên suốt, kịp thời và sát với thực tế của từng địa phương.

3.2. Vai trò của Ban Giám hiệu và Tổ công tác thư viện nhà trường

Tại cấp trường, vai trò của Ban Giám hiệu là quyết định. Hiệu trưởng phải nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của thư viện và trực tiếp chỉ đạo công tác này. Việc thành lập Tổ công tác thư viện, bao gồm đại diện Ban Giám hiệu, cán bộ thư viện, tổ trưởng chuyên môn, và đại diện các đoàn thể, là yêu cầu cấp thiết. Tổ công tác này sẽ xây dựng kế hoạch hoạt động hàng năm, tham mưu cho lãnh đạo về việc đầu tư, và huy động sự tham gia của toàn thể giáo viên, học sinh vào các hoạt động thư viện. Sự chỉ đạo sát sao của Ban Giám hiệu sẽ biến thư viện từ một bộ phận phụ trợ thành trung tâm của hoạt động dạy và học.

IV. Bí quyết nâng cao nghiệp vụ và đầu tư cho thư viện trường học

Bên cạnh việc kiện toàn tổ chức, hai yếu tố sống còn để nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thư viện trường phổ thông là con người và nguồn lực. Luận văn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ thư viện. Một cán bộ có chuyên môn vững vàng sẽ biết cách tổ chức kho sách khoa học, khai thác tối đa giá trị tài liệu và thu hút bạn đọc. Song song đó, việc tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và đảm bảo kinh phí hoạt động ổn định là điều kiện tiên quyết. Không thể có một thư viện mạnh nếu thiếu sách hay, không gian đọc thoải mái và các trang thiết bị hiện đại. Các giải pháp cần được thực hiện đồng bộ, từ việc mở các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ thường xuyên, bố trí cán bộ chuyên trách, đến việc vận động đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách nhà nước. Đây chính là bí quyết để biến các thư viện trường học tại Thanh Hóa trở thành những không gian tri thức năng động, sáng tạo.

4.1. Kế hoạch đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ

Cần xây dựng một kế hoạch dài hạn về đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ thư viện. Sở Giáo dục và Đào tạo nên phối hợp với các trường có chuyên ngành thư viện để mở các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ ngắn hạn và dài hạn. Nội dung đào tạo cần cập nhật các kiến thức mới về quản lý thư viện hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin, kỹ năng tổ chức hoạt động bạn đọc. Đồng thời, cần có chính sách ưu tiên tuyển dụng và bố trí những người được đào tạo đúng chuyên ngành thư viện, từng bước tiến tới mục tiêu mỗi trường có ít nhất một cán bộ thư viện chuyên trách.

4.2. Giải pháp tăng cường kinh phí và cơ sở vật chất cho thư viện

Để giải quyết bài toán kinh phí, cần thực hiện nghiêm túc việc trích ngân sách sự nghiệp giáo dục cho thư viện theo quy định của Thông tư 30/TT-LB. Bên cạnh đó, các nhà trường cần chủ động đẩy mạnh xã hội hóa, huy động sự đóng góp từ hội cha mẹ học sinh, các doanh nghiệp, nhà hảo tâm. Nguồn thu từ hoạt động cho thuê sách giáo khoa cũng cần được quản lý chặt chẽ và tái đầu tư để bổ sung sách mới. Về cơ sở vật chất, cần có lộ trình để xây dựng các phòng thư viện đạt chuẩn, mua sắm đầy đủ trang thiết bị cần thiết, và từng bước hiện đại hóa, hướng tới mô hình thư viện điện tử.

V. Hướng dẫn xây dựng thư viện trường học đạt chuẩn tại Thanh Hóa

Mục tiêu cuối cùng của việc tổ chức quản lý hoạt động thư viện là xây dựng được một hệ thống thư viện vững mạnh, đạt các tiêu chuẩn chất lượng của ngành. Quyết định số 01/2003/QĐ/BGD&ĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành bộ tiêu chuẩn cụ thể để đánh giá và công nhận các danh hiệu: Thư viện trường học đạt chuẩn, Thư viện tiên tiến và Thư viện xuất sắc. Việc phấn đấu đạt các tiêu chuẩn này không chỉ là mục tiêu thi đua mà còn là một lộ trình khoa học để các trường tự hoàn thiện. Bộ tiêu chuẩn bao gồm 5 lĩnh vực: sách báo và tài liệu; cơ sở vật chất; nghiệp vụ; tổ chức và hoạt động; quản lý thư viện. Việc áp dụng các tiêu chuẩn này vào thực tiễn đòi hỏi sự nỗ lực của từng nhà trường và sự chỉ đạo quyết liệt từ các cơ quan quản lý. Đây là hướng dẫn chi tiết để các trường tại Thanh Hóa từng bước nâng cấp thư viện của mình, góp phần vào sự nghiệp giáo dục chung của tỉnh.

5.1. Phân tích 5 tiêu chuẩn của thư viện trường học đạt chuẩn

Bộ tiêu chuẩn theo Quyết định 01/2003/QĐ/BGD&ĐT là kim chỉ nam cho mọi hoạt động. Tiêu chuẩn 1 về sách, báo, tài liệu yêu cầu đảm bảo đủ số lượng và chất lượng sách giáo khoa, sách nghiệp vụ và sách tham khảo. Tiêu chuẩn 2 về cơ sở vật chất quy định diện tích, trang thiết bị tối thiểu. Tiêu chuẩn 3 về nghiệp vụ đòi hỏi các khâu xử lý kỹ thuật phải đúng quy trình. Tiêu chuẩn 4 về tổ chức hoạt động nhấn mạnh hiệu quả phục vụ bạn đọc và các hoạt động ngoại khóa. Tiêu chuẩn 5 về quản lý tập trung vào vai trò của Ban Giám hiệu, kế hoạch hoạt động và hồ sơ sổ sách.

5.2. Quy trình đăng ký và công nhận danh hiệu thư viện các cấp

Quy trình công nhận được thực hiện một cách bài bản. Đầu tiên, nhà trường tự đánh giá dựa trên phiếu tiêu chuẩn và gửi hồ sơ đề nghị lên cơ quan quản lý trực tiếp. Đối với trường tiểu học và THCS, Phòng Giáo dục sẽ thẩm định ban đầu. Sau đó, Sở Giáo dục và Đào tạo sẽ thành lập đoàn kiểm tra, đánh giá thực tế tại đơn vị. Nếu đạt đủ các tiêu chí, Sở sẽ ra quyết định và cấp giấy chứng nhận thư viện đạt chuẩn hoặc các danh hiệu cao hơn. Việc đưa tiêu chí thư viện chuẩn vào xét thi đua hàng năm của Sở Giáo dục Thanh Hóa là một động lực quan trọng thúc đẩy các trường tích cực tham gia xây dựng và phát triển thư viện.

VI. Định hướng phát triển hệ thống thư viện phổ thông Thanh Hóa

Dựa trên những phân tích về thực trạng và các giải pháp đề xuất, luận văn đã vạch ra định hướng phát triển cho hệ thống thư viện trường phổ thông trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong tương lai. Định hướng này hoàn toàn phù hợp với Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, trong đó nhấn mạnh mục tiêu “đến năm 2010 tất cả các trường phổ thông đều có thư viện”. Để hiện thực hóa mục tiêu này, Thanh Hóa cần xây dựng một đề án tổng thể, xác định lộ trình cụ thể cho từng giai đoạn, ưu tiên nguồn lực cho các vùng khó khăn. Tương lai của hệ thống thư viện không chỉ là mở rộng về số lượng mà còn phải nâng cao về chất lượng. Cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, từng bước xây dựng thư viện điện tử, nối mạng Internet để giáo viên và học sinh có thể tiếp cận với nguồn tri thức vô tận. Việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế tổ chức quản lý hoạt động thư viện một cách khoa học và bền vững sẽ là chìa khóa để hệ thống thư viện thực sự trở thành trái tim của mỗi ngôi trường.

6.1. Mục tiêu phát triển thư viện theo chiến lược giáo dục quốc gia

Chiến lược phát triển giáo dục quốc gia đã chỉ rõ vai trò của thư viện trong việc đổi mới phương pháp dạy và học. Mục tiêu của Thanh Hóa là phấn đấu đến năm 2010, 100% trường có thư viện, và đến năm 2015, tất cả các trường đều có giáo viên thư viện chuyên trách. Đề án của Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa cũng đặt ra các chỉ tiêu cụ thể về tỷ lệ thư viện đạt chuẩn, tiên tiến và xuất sắc. Việc bám sát các mục tiêu chiến lược này sẽ giúp ngành giáo dục tỉnh nhà phát triển một cách đồng bộ và bền vững.

6.2. Xu hướng hiện đại hóa và ứng dụng công nghệ vào thư viện

Trong kỷ nguyên số, việc hiện đại hóa thư viện là một xu thế tất yếu. Định hướng phát triển cần chú trọng đến việc đầu tư các trang thiết bị hiện đại như máy tính, máy chiếu, và kết nối mạng Internet. Từng bước số hóa tài liệu, xây dựng các cơ sở dữ liệu trực tuyến và phần mềm quản lý thư viện chuyên nghiệp. Việc này không chỉ giúp công tác quản lý trở nên hiệu quả hơn mà còn mở ra những phương thức tiếp cận thông tin mới mẻ, hấp dẫn cho học sinh, giúp các em hình thành kỹ năng học tập trong môi trường số và hội nhập với thế giới.

27/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục, danh mục sách tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương và 15 mục. ll CHUONG 1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG THƯ VIEN TRUONG PHO THONG 6 TINH THANH HOA. Thư viện trường học - một trong những yếu tố cấu thành chất lượng giáo dục đào tạo ở tỉnh Thanh Hoá. 1 Khái quát về tình hình Giáo dục - Đào tạo ở Thanh Hoá.

Cơ cấu, số lượng trường, lớp, học sinh ở từng cấp học, bậc học. Năm học 2005-2006, toàn Tỉnh có 2.155 trường học, cơ sở giáo dục đào tạo. Nhìn chung Thanh Hoá đã phát triển hoàn chỉnh hệ thống giáo dục đào tạo theo khung của hệ thống giáo dục quốc dân, có đây đủ từ trường Mâm non đến Đại học; trường lớp được phủ kín đến các thôn, bản, làng, xã trong Tỉnh. Trong nền giáo dục quốc dân, ngành học phổ thông có thể nói là ngành học xương sống.

Do vậy ở bất kỳ hoàn cảnh khó khăn nào sự phát triển giáo dục phổ thông cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đâu. nên giáo dục phổ thông Thanh Hoá dưới sự lãnh đạo chăm lo của Đảng, của các cấp chính quyền, sự phối hợp của các đoàn thể quần chúng từ 182 trường tiểu học với 13.235 học sinh, trong đó có có tới 8.111 học sinh lớp 1,2,3 và chỉ có 1 trường trung học (cấp 2) với gần 200 học sinh trong năm học 1945-1946 (năm học đầu tiên của Nhà nước Việt Nam mới) đến nay toàn Tỉnh đã có 1.476 trường với 700.142 học sinh [ 22, tr.121] Năm học Tiểu Học TH CS TH PT Sốtường |SốH§ |Sốtrường [SốHS | Sotrudng [SốHS 2003-2004 730 360. Thống kê số trường và học sinh phổ thong tỉnh Thanh Hoá 12 Nhìn chung, quy mô trường, lớp, học sinh ở Thanh Hoá tương đối ổn định. Tuy nhiên mấy năm gần đây do có sự thay đổi về cơ cấu dân số, vẻ kinh tế, xã hị nên đã có sự thay đổi về quy mô giữa các cấp học: cấp tiểu học và trung học cơ sở đang có xu hướng giảm, còn cấp trung học phổ thông có sự.

phát triển cả quy mô trường lớp lẫn số lượng học sinh. Thanh Hoá là tỉnh có địa bàn dân cư rộng lớn và tương đối phức tạp, miễn núi và vùng kinh tế đặc biệt khó khăn tương đối nhiều (11 huyện miễn núi với 115 xã vùng 135) vì vậy sự bố trí trường, lớp giữa các vùng miền còn chưa thật hợp lý. Nhiều huyện còn khó khăn chưa có điều kiện để xây dựng cơ sở vật chất, kiên cố hoá trường lớp để đẩy nhanh tốc độ xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia, trong đó có xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị cho TVTH. Chất lượng Giáo dục - Đào tạo Thanh Hoá là một trong những tỉnh luôn dẫn đầu toàn quốc vẻ chất lượng giáo dục phổ thông.

Số học sinh đạt giải cao trong các kỳ thỉ quốc tế và khu vực của Thanh Hoá luôn là niềm tự hào của người dân xứ Thanh. Nếu Nghệ An có trường THPT Phan Bội Châu, Nam Định có trường THPT Lê Hồng Phong. thì Thanh Hoá có trường THPT Lam Sơn, nơi đào tạo nhân tài cho Thanh Hoá và cho cả nước. Từ năm học 1984 đến nay, Thanh Hoá có 20 học sinh đạt giải trong các kì thi Olympic học sinh phổ thông toàn Thế giới và 9 hoe sinh dat giải trong các ki thi Olympic học sinh phổ thông Khu vực Châu Á- Thái Bình Dương, trong đó có 1 HCV quốc tế môn toán của Đỗ Quang Yen tai Rumani nam 1999, I1 HCB, 10 HCĐ quốc tế và khu vực cho các môn toán, lý, hoá, sinh.

Số học sinh đỗ vào các trường đại học, cao đẳng trung học chuyên nghiệp của Thanh Hoá cũng rất cao. Nhiều học sinh đã đạt điểm tuyệt đối trong các kỳ thỉ tuyển sinh vào dai học. 13 Việc xây dựng các trường chuẩn quốc gia cũng nói lên chất lượng giáo dục đào tạo tỉnh nhà. Tính đến thời điểm này, tất cả các cấp học, bậc học đã có trường đạt chuẩn quốc gia.

Trong đó cấp tiểu học có 324/729 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt tỉ lệ 41,8%, số lượng trường dẫn đâu toàn quốc ( Một số địa phương đạt tỷ lệ trường chuẩn quốc gia cao như huyện Hậu Lộc có 25/32. trường đạt 78,1%.thị xã Bìm Sơn có 6/8 trường đạt 75%, Thiệu Hoá có 23/31 trường đạt 74.2%, Yên Định có 21/30 trường đạt 70%). Riêng cấp tiểu học toàn tỉnh chỉ còn một huyện miền núi khó khăn nhất là huyện Mường Lát chưa có trường chuẩn quốc gia. Cấp THCS có 42/652 trường đạt chuẩn quốc gia, chiếm tỉ lệ 6%.

Đối với cấp THCS hiện chỉ có 13/27 huyện, thị có trường đạt chuẩn quốc gia, dẫn đâu là huyện Yên Định, Hà Trung. Cap THPT chỉ có 5/95 trường đạt chuẩn quốc gia, chiếm tỉ lệ 5%. ( Số liệu trích dẫn lấy từ Báo cáo tổng kết tình hình thực en nhiệm vụ năm học 2005-2006 của Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hoá), Việc xây dựng nhanh các trường chuẩn quốc gia cũng góp phân thúc đẩy phong trào TVTH phát triển vì trong giai đoạn hiện nay trường chuẩn quốc gia có nghĩa là thư viện nhà trường phải chuẩn 1. Vai trò của thư viện trường học trong việc nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường Thư viện trường phổ thông là một bộ phận cơ sở vật chất trọng yếu, là trung tâm sinh hoạt văn hoá và khoa học của nhà trường.

Ở những nước gần kẻ với nước ta có hệ thống TVTH phát triển cao như Thái Lan, Singapo.đã chứng minh rằng sự có mặt của TVTH không những thúc đẩy quá trình dạy và học, tiết kiệm được ngân sách mà còn là cứu cánh cho “những chủ nhân tương lai của đất nước”. Bởi vì xã hội càng phát triển, con người càng văn minh thì xu thế xuất bản sách càng"*sang trọng”. Càng ngày người ta càng tìm sâu hiểu rộng và đi vào tìm hiểu khám phá mọi ngóc ngách của sự việc, sách có tính tư. 14 tưởng hơn, nghĩa là các đầu sách đa dạng và phong phú hơn, sự đòi hỏi trong giáo dục đào tạo cũng cao hơn, khát khe hơn.

Nếu chỉ dạy chay, học chay kiến thức trong sách giáo khoa thôi thì quả thực là chưa đủ mà phải đọc thêm hệ thống các sách tham khảo, nhưng sách tham khảo thì càng ngày càng nhiều, vậy thử hỏi không có thư viện thì đôi vai của các em có tải hết được không? Đối với nước bạn Singapo, họ đã xây dựng hẳn một chương trình quốc. gia về thư viện. Singapo xác định rất rõ ràng: Muốn đưa đất nước Singapo phát triển, phải phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo và công việc đầu tiên là xây dựng chương trình quốc gia Thong tin ~ Thu vign [12, tr.233] Học sinh của chúng ta ngày nay không chỉ học theo phương pháp thuyết trình như chúng ta ngày trước, mà các em được học theo nhiều phương pháp, có nhiều cách tiếp cận vấn đẻ. Sách vở phục vụ cho việc học tập của các em cũng phong phú và đa dạng hơn trước nhiều.

Thư viện chính là nơi giúp các em tìm được những cuốn sách mà các em cần và làm phong phú thêm vốn kiến thức của các em. Thư viện trường phổ thông là nơi chứa đựng rất nhiều tài liệu vẻ các lĩnh vực đào tạo của hệ thống giáo dục phổ thông, từ đó góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên, đồng thời thư viện trường phổ thông cũng góp phần bồi dưỡng kiến thức cơ bản và xây dựng thói quen tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, tạo cơ sở từng bước thay đổi phương pháp dạy và học. Bên cạnh đó, thư viện cũng tham gia tích cực vào việc bồi dưỡng tư tưởng chính trị và xây dựng nếp sống văn hoá mới cho các thành viên trong nhà trường. Có thể nói, ngoài sự đóng góp của đội ngũ giáo viên thì thư viện các trường phổ thông đã góp phần không nhỏ cho chất lượng giáo dục ở các nhà trường.

Những trường có phong trào TVTH phát triển, chất lượng giáo dục tăng lên rõ rệt, trình độ của đội ngũ giáo viên được nâng cao, tỷ lệ học sinh khá giỏi tăng lên, số học sinh đạt giải trong các kỳ thỉ học sinh các cấp cũng từ đó tăng lên rõ rệt. Điển hình là các trường THPT Lam Sơn, DTNT 15 tỉnh, Tiểu học Ba Đình, THCS Ba Đình (TP Thanh Hoá); THPT Ba Đình, THCS Chu Văn An, Tiểu học Nga An (Nga Sơn). những lá cờ đầu của giáo dục tỉnh Thanh Hoá. Các trường này đều có công tác TVTH phát triển mạnh, với số lượng sách, báo phong phú và các phong trào hoạt động đa dạng.

Các giai đoạn hình thành và phát triển của hệ thống thư viện trường phổ thông tỉnh Thanh Hoá. Tủ sách dùng chung. “Từ những năm tháng khói lửa chiến tranh, lúc đó nền kinh tế của chúng. ta gần như kiệt quệ, nhưng trong lĩnh vực giáo dục, để đảm bảo cho con em mình có điều kiện học tập, nhân dân ta đã tự dấy lên những phong trào quyên góp sách, huy động mọi lực lượng trong nhân dân tham gia đóng góp xây dựng tủ sách dùng chung.

Một trong những phong trào lớn ấy là phong trào xây dựng *Tủ sách Nguyễn Tất Thành”. Chỉ trong một thời gian ngắn phong trào đã lan rộng khắp nơi và thu được nhiều kết quả [12, tr. Mặc dù trong chiến tranh, Thanh Hoá trở thành trọng điểm bị giặc Mỹ đánh phá rất ác liệt, nhưng giáo dục Thanh Hoá vẫn luôn là lá cờ đầu của toàn quốc, trong đó có phong trào xây dựng '"Tủ sách Nguyễn Tất Thành”. Rất nhiều trường đã xây dựng tủ sách và tổ chức hoạt động rất sôi nổi, điển hình là *Tủ sách Nguyễn Tất Thành” của trường phổ thông cơ sở Vĩnh Thành, huyện Vinh Loc né tiếng khắp toàn quốc vẻ sau trở thành *Thư viện Nguyễn Tất Thành” và năm 1978 được vinh dự đón Bộ trưởng Bộ Giáo dục vẻ thăm; Huyện Tĩnh Gia với trường cấp 1 Hải Nhân; Thị xã Thanh Hoá với trường Ba Đình.

Từ phong trào xây dựng *Tủ sách Nguyễn Tất Thành”, đã dấy lên phong trào thi đua đọc và làm theo sách, góp phần thanh toán nạn mù chữ, đầy mạnh phong trào thi dua “Hai tốt” trong các nhà trường trong toàn tỉnh. Khi chiến tranh kết thúc, vấn đẻ TVTH được đặt ra một cách nghiêm túc, chính thống. Ngày 4/3/1978 Bộ Giáo dục (cũ) đã ra Quyết định số 288/QÐ về "Tiêu chuẩn thư viện trường học”: tiếp đó là Quyết định số 16 947/QÐ ngày 31/7/1979 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục (cũ) vẻ *Quy chế rổ chức và hoạt động thư viện trường phổ thông”. Hai quyết định này đã nhanh chóng.

đi vào thực tế và phát huy hiệu quả.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ