Chương 1: Thư viện thành phố Đà Nẵng trong sự nghiệp phát triển Kinh tế - xã hội của thành phố. Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của thư viện thành phố pa Nẵng. Chương 3: Các giải pháp tăng cường hoạt động thư viện - thông tin tại thư viện thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình thực hiện luận văn, với trình độ và khả năng có hạn của tác giả, luận văn khó tránh khỏi những sai sót, khiếm khuyết.
Rất mong nhận được sự chỉ dẫn của quý Thây, Cô, và các bạn đồng nghiệp. Qua đây, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu tới Phó Giáo Sư - Tiến sĩ Nguyễn Thị Lan Thanh - người tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành bản luận văn này. Xin chân thành cảm ơn c: c Thầy, Cô giáo khoa Sau Đại học - trường Đại học Văn Hoá Hà Nội. Các Thầy, Cô giáo tham gia giảng dạy lớp Cao học Thư viện Khoá 2003 - 2006 đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu luận văn.
-H- Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn tới lãnh đạo Thư viện Khoa học Tổng hợp thành phố Đà Nẵng, cảm ơn các anh, chị và các bạn đồng nghiệp tại cơ quan đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành tốt khoá học, cũng như. trong quá trình thực hiện luận văn. -12- Chương L THƯ VIỆN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TRONG SỰ NGHIỆP. PHÁT TRIỂN KINH TẾ- XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ 1.1 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Da Nang trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.1 Đặc điểm về tự nhiên và kinh tế - xã hội của thành phố.
“Thành phố Đà Nẵng trở thành thành phố trực thuộc Trung ương từ ngày. 01/01/1997 theo Nghị quyết của Quốc hội. Nằm ở vị tri 15°55’ dén 16°14’ vi Bắc, 108"18' đến 108°20° kinh Đông, Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên Huế, Tây và Nam giáp tỉnh Quảng Nam, Đông giáp biển Đông. Năm ở vào vị trí trung độ của đất nước, trên trục giao thông Bắc - Nam vẻ đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không; cách Thủ đô Hà Nội 764 km vẻ phía bắc; cách thành phố Hồ Chí Minh 964 km vẻ phía nam.
Ngoài ra Đà Nẵng còn là trung điểm của 4 di sản văn hoá thế giới nổi tiếng là Cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn và Rừng Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Trong phạm vi khu vực và quốc tế, thành phố Đà Nẵng là một trong những cửa ngõ quan trọng ra biển của Tây Nguyên và các nước Lào, Campuchia, Thái Lan, Myama đến các nước vùng Đông Bắc Á thông qua hành lang kinh tế Đông Tây với điểm kết thúc là cảng biển Tiên Sa. trên một trong những tuyến đường biển và đường hàng không quốc tế, thành -13- phố Đà Nẵng có một vị trí địa lý đặc biệt thuận lợi cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững. Vé dia hinh: Thành phố Đà Nẵng vừa có đồng bằng, vừa có đổi núi, vùng núi cao và dốc tập trung ở phía Tây và Tây Bắc, từ đây có nhiều dãy núi chạy ra biển, bên cạnh đó có một số đồi núi thấp xen kẽ vùng đồng bằng ven biển hẹp.
Địa hình đổi núi chiếm diện tích lớn, độ cao khoảng từ 700-1500m, độ đốc lớn (400), là nơi tập trung nhiều rừng đâu nguồn, có ý nghĩa bảo vệ môi trường sinh thái của thành phố. Hệ thống sông ngồi ngắn và dốc, bát nguồn từ phía Tây, Tây Bắc và tỉnh Quảng Nam. Đồng ảng ven biển là vùng đất thấp chịu ảnh hưởng của biển bị nhiễm mạn, là vùng tập trung nhiều cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, quân sự, đất ở và các khu chức năng của thành phố. Về khí hãi Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao và ít biến động.
Khí hậu Đà Nẵng là nơi chuyển tiếp đan xen giữa khí hậu miễn Bắc và khí hậu miền Nam, với tính trội là khí hậu nhiệt đới điển hình ở phía Nam. Mỗi năm có hai mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7, thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đông, tuy nhiên không rét đậm và rét kéo dài. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 25,9°C, cao nhất vào các tháng 6,7,8, trung bình từ 28-30'C, thấp nhất vào các tháng 12,1,2, trung bình từ 18-23C. Riêng vùng rừng núi Bà Nà ở độ cao gần 1.500 m có nhiệt độ trung bình khoảng 20C.
-14- Độ ẩm không khí trung bình là 83,4%; cao nhất vào các tháng 10,11 trung bình từ 85,67 - 87,67%: thấp nhất vào các tháng 6.7, trung bình từ 76,67 -T1. Lượng mưa trung bình hàng năm là 2.57 mm/näm: lượng mưa cao nhất vào các tháng 10,11, trung bình từ 550 - 1000 mm/tháng: thấp nhất vào các tháng 1.4, trung bình từ 23 - 40 mm/tháng. Vẻ tuyên: *Tài nguyên đất: Với diện tích đất tự nhiên là 1.53 km? (chủ yếu là đất đổi núi và đảo, trong đó có huyện đảo Hoàng Sa diện tích 305 km”), thành phố có rất nhiều loại đất khác nhau: cồn cát và đất cát ven biển; đất man; đất phèn; đất phù sa; đất xám bạc màu và đất xám; đất đen; đất đỏ vàng: đất mùn đỏ vàng.Trong đó quan trọng là nhóm đất phù sa ở vùng đồng bằng ven biển thích hợp với thâm canh lúa, trồng rau và hoa quả ven đô; đất đỏ vàng ở vùng đồi núi thích hợp với ác loại cây công nghiệp dài ngày, cây đặc sản, dược liệu, chăn nuôi gia súc và có kết cấu vững chắc, thuận lợi cho việc bố trí các cơ sở công trình hạ tầng kỹ thuật.255,53 kmẺ diện tích chia theo loại đất có: ~ Đất lâm nghiệp: 514,21 km°= 41,0% - Dat nông nghiệp: 117,22 km?= 9,3% ~ Đất chuyên dùng (sử dụng cho mục đích công nghiệp, xây dung, thuy Igi, kho bai, quân sự, 385,69 km?= 30,7% ~ Đất ở: 30,79 kmẼ= 2,5%. - Đất chưa sử dụng, sông, núi: 207,62 km?=16,5% (Số liệu thống kê năm 2003) -15- *Tài nguyên khoáng sản: Thành phố Đà Nẵng có nhiều loại tài nguyên khoáng sản khác nhau như: Cát trắng: tập trung ở Nam Ô, trữ lượng khoảng Š triệu mì.
Đá hoa cương ở Non Nước (Hiện nay đã được cấm khai thác do việc bảo vệ khu di tích nổi tiếng Ngũ Hành Sơn). Đá xây dựng: đây là loại khoáng sản chủ yếu của thành phố, tập trung ở khu vực phía Tây, Bắc và Tây Nam thành phố. Đá phiến lợp: tập trung ở thôn Phò Nam xã Hoà Bắc, là loại đá filit màu xám đen, có thể tách thành từng tấm với kích thước (0. Trữ lượng khoảng 500.
Cát, cuội sỏi xây dựng được lấy từ lòng sông Vĩnh Điện, Tuý Loan, Sông Yên, Cầu Đỏ, Cẩm Lệ, Cu Dé; cudi sỏi Hoà Bắc, Hoà Liên. Đất sét: trữ lượng khoảng 38 triệu m”. Nước khoáng ở Đồng Nghệ, lưu lượng tự chảy khoảng 72 m”/ngày. Đặc biệt vùng thêm lục địa còn có nhiều triển vọng vẻ dầu khí.
*Tài nguyên nước: Đà Nẵng có bờ biển dài khoảng trên 50 km, có vịnh Đà Nẵng nằm chắn bởi sườn núi Hải Văn và Sơn Trà, mực nước sâu, thuận lợi cho việc xây dựng cảng lớn và một số cảng chuyên dùng khác, do được nằm trên các tuyến đường biển quốc tế nên rất thuận lợi cho việc giao thông đường thuỷ. Mặt khác vịnh Đà Nẵng còn là nơi trú đậu tránh bão của các tàu, thuyền có công suất lớn. Vùng biển Đà Nẵng có ngư trường rộng trên 15.000 km”, có các động vật biển phong phú trên 266 giống loài, trong đó hải sản có giá trị kinh tế cao -16- gồm 16 loài (11 loài tôm, 02 loài mực và 03 loại rong biển).với tổng trữ lượng là 1.000 tấn hải sản các loại (theo dự báo của Bộ Thuỷ sản) và được phân bố tập trung ở vùng nước có độ sâu từ 50 - 200 m (chiếm 48,1%), ở độ sâu 50 m (chiếm 31,0%), vùng nước sâu trên 200 m (chiếm 20,6%). Hàng năm có khả năng khai thác trên 150.000 tấn hải sản các loại.
Bên cạnh đó bờ biển Đà Nẵng còn có nhiều bãi tắm đẹp như: Non Nước, Mỹ Khê, Xuân Thiểu, Nam Ô.với nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú. Õ khu vực quanh bán đảo Sơn Trà có những bãi san hô lớn, thuận lợi cho việc phát triển các loại hình kinh doanh, dịch vụ, du lịch biển. Ngoài ra vùng biển Đà Nẵng còn đang được tiến hành thăm dò dâu khí, chất đốt. ao hụ Đa số các sông ngồi ở Đà Năng đều ngắn và đốc, được bắt nguồn từ phía Tây, Tây Bắc thành phố và tỉnh Quảng Nam.
Có 2 con sông chính là sông Hàn, chiều dài khoảng 204 km, tổng diện tích lưu vực khoảng 5.180 kmẺ và song Cu De (chiều dài khoảng 38km, lưu vực khoảng 426 km”). Ngoài ra trên địa bàn thành phố còn có các sông: sông Yên, sông Chu Bái, sông Vĩnh Điện, sông Tuý Loan, sông Phú Lộc,.Thành phố còn có hơn 546 ha mặt nước có khả năng nuôi trồng thuỷ sản, với tiềm năng về diện tích mặt nước, tạo điều kiện tốt cho thành phố xây dựng thành các vùng nuôi trồng thuỷ, hải s *Tài nguyên rừng: Với diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn thành phố là 67.148 ha tập trung chủ yếu ở phía Tây và Tây Bắc thành phố, bao gồm ba loại rừng: Rừng đặc dụng: 22.745 ha, trong đó đất rừng là 15.933 ha; Rừng phòng hộ: 20.895 ha, trong đó đất có rừng là: 17.468 ha: Rừng sản xuất : 23.508 ha, trong đó đất có rừng là 18. -17- Rừng ở Đà Nẵng tập trung chủ yếu ở cánh phía Tây huyện Hoà Vang, một số ít ở quận Liên Chiểu, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, tỷ lệ che phủ là 49,6%, trữ lượng gỗ khoảng 3 triệu mỶ. Phân bố chủ yếu ở nơi có độ dốc lớn, địa hình phức tạp.
Rừng của thành phố ngoài ý nghĩa kinh tế còn có ý nghĩa phục vụ nghiên cứu khoa học, bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển du lịch. Thiên nhiên đã ưu đãi ban cho thành phố các khu bảo tồn thiên nhiên đặc sắc như: Khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà, khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà và khu văn hoá lịch sử môi trường Nam Hải Vân, đây là những nơi bảo tổn và phát triển các loài động vật rừng quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng, là những bức bình phong che chắn gió bão cho thành phố. Vẻ tổ chức hành chính: Thành phố Đà Nẵng được chia thành 6 quận nội thành đó là: Quận Hải Châu, Quận Thanh Khê, Quận Sơn Trà, Quận Ngũ Hành Sơn, Quận Liên Chiểu, Quận Cẩm Lệ và 2 huyện ngoại thành là Huyện Hoà Vang và Huyện Đảo Hoàng Sa. Dân số của thành phố là 764.
Cơ cấu dân số ở nông thôn là 156.