Chương 1: Các thư viện tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng với công tác bảo quản tài liệu. Chương 2: Thực trạng bảo quản tài liệu ở các thư viện tỉnh vùng đồng bàng, sông Héng Chương 3: Các giải pháp tăng cường công tác bảo quản tài liệu của các thư viện tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng, Bảo quản tài liệu thư viện mang ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của các thư viện nhưng ở các thư viện nước ta lại chưa được quan tâm. đúng mức trong nhiều thập kỷ qua. Nghiê ang bao quan von tai liệu ở các thư viện tỉnh Đồng bằng sông Hồng mới được lần đầu tiên qua dé tài này.
Tuy vậy, do kinh nghiệm, kiến thức và thời gian có hạn, luận văn chắc. không tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định, rất mong nhận được sự chỉ giáo và ý kiến quý báu của quí thây cô và các đồng nghiệp để luận văn được hoàn chỉnh hơn. Xin thành kính trì ân: - Ban Giám hiệu Trường Đại học Văn Hoá Hà Nội. - Quý Thay Cô giáo Khoa Thông tỉn thư viện và Khoa sau Đại học - Trường Đại học Văn hoá Hà Nội đã tận tình giúp đỡ và giảng dạy chúng tôi trong những năm học vừa qua.
- Tiến sĩ Chu Ngọc Lâm - Giáo viên hướng dẫn khoa học của luận văn - Tiế Nguyễn Thị Minh Nguyệt - Giáo viên chủ nhiệm Lớp Cao học Thư viện khoá 9 đã khuyến khích tôi thực hiện luận văn này. Xin chân thành cảm ơn Phòng Tài liệu nghiệp vụ và phòng Hướng dẫn nghiệp vụ - Thư viện Quốc Gia Việt Nam đã cung ấp tư liệu cũng như kinh nghiệm thực tiễn về công tác bảo quản. Xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc và các anh chị em cán bộ thư viện tỉnh đồng bằng sông Hồng (Hà Nội, Hà Tây, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình) đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp tư liệu, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này. Hà Nội ngày 30 tháng 8 năm 2006 CHUONG 1: CAC THU VIEN TINH VUNG DONG BANG SONG HONG VOI CONG TAC BAO QUAN TAI LIEU.1 KHÁI QUÁT VỀ VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG 1 1.
Đặc điểm tự nhiên Việt Nam có hai đồng bằng châu thổ lớn: Đồng bằng sông Hồng ở miễn Bắc và Đồng bằng sông Cửu Long ở miễn Nam. So với Đồng bằng sông Cửu Long, Đồng bằng sông Hồng chỉ có di tích vào khoảng 1/3. Dị tích tự nhiên toàn vùng là 20. Về đị lý, vùng Đồng bằng sông Hồng.
ìm điểm của con đường giao lưu quốc tế theo hai trục chính: Tây - Đông và Bị Nam. Phía Bắc và Tây Bắc Đồng bằng sông Hồng giáp với trung du và miền núi, nơi giàu khoáng sản rừng. Phía Đông giáp biển Đông, nơi có nguồn hả sản phong phú. Phía Nam Về Bắc Trung bộ, nơi ật liệu và khoáng ịa hình, vùng Đồng bằng sông Hồng là địa hình núi xen ké déng bing hoa thung lũng.
Mặt đất tự nhiên vùng cao từ 10-15 m giảm dần đến độ cao mặt biển, dốc thoả từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Những vù \g đất cao hơn nằm ở rìa vùng đồng bằng tồn tại dưới dạng các núi đá vôi giống như các quả đôi biệt lập chạy dài theo hướng Tây = Nam ở c tỉnh Ninh Bình, Nam Định, Hà Tây. Hầu như toàn bộ đất trong vùng đồng bằng được bao bọc bởi 2.310 km đê sông và gần 380 km đê biển. ông giữa hai tuyến đê thường cao hơn mặt đất phía ngoài từ 3-5m.
Đồng bằng sông Hồng có nhiều loại khoáng sản: nhiên liệu, vật liệu xây dựng, khoáng chất và kim loại. Trong vùng đã phát hiện và tính trữ lượng 307 mỏ và điểm khoáng sản, phần lớn là các mỏ có quy mô nhỏ. Khoáng sản chủ yếu của Đồng bằng sông Hồng có đá vôi trữ lượng 2 tỷ tấn, đất sét và phụ gia cho sản xuất xi măng. Bể than nâu nằm dưới lòng đất khoảng 900 triệu tấn.
Các khoáng sản kim loại và phi trữ lượng quá ít, không có triển vọng khai thác công nghiệp. Ngoài ra còn ật liệu xây dựng. Trữ lượng thăm dò các vỉa khí và khí ngưng tụ tại vùng Tiên Hải (Thái Bình) được đánh giá từ năm 1962 là 1263 triệu m3. Với nhiề danh lam thắng cảnh, tài nguyên du lịch của Đồng bằng sông Hồng được coi là một lợi thế nổi trội so với các vùng khác.
“Thảm thực vật tự nhiên hiện nay gồm sú vẹt ở các dải đất ven biển và thực vật đầm lầy ở các ô trũng với 197 loại thuộc 64 họ. Thực vật cây trồng phong phú hơn gồm nhiêu loại cây lương thực và cây công nghiệp. Đất đồi rừng ở vùng Đồng bằng sông Hồng chỉ có 110,5 nghìn ha, chiếm 0,57% đất đồi rừng toàn quốc, 5%. đất tự nhiên của vùng.
Động vật hoang dã cũng không thấy có, trừ ở rìa đồng bằng tiếp giáp với miền núi, có một số loài động vật quí hiếm như gà tiền mặt vàng, sáo mỏ ngà, cu li lớn, tắc kè, kỳ đà hoa, trăn mồ ‘him thường thuộc bộ Sẻ và s ống theo người. Cũng có những loài chỉm di cư từ phương xa đến để trú đông như vịt trời, ngỗng trời, le le. Trong vùng có 240 loại cá, trong đó có 30 loại cá có giá trị kinh tế. Ngoài Ta còn có ‘4c loại thuỷ đặc sản khác như tôm, cua, ốc, trai, hến [17], [24].Điều kiện khí hậu - thuỷ văn * Khí hậu Khí hậu vùng Đồng bằng sông Hồng là khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, gió mùa có mùa đông lạnh.
Đồng bằng sông Hồng là vùng châu thổ phì nhiêu, sông ngòi dày đặc và là trung tâm của miễn khí hậu phía Bắc có mùa đông lạnh. Nửa đầu mùa đông hanh khô, ít mưa, độ ẩm 80%, nửa cuối mùa đông, không khí gân như bão hoà ẩm. Vào mùa đông số ngày có độ ẩm dưới 50-60% là rất ít. Mùa hè trùng với mùa mưa ẩm, độ ẩm trung bình 80-85%, khí hậu biến động mạnh với gió bão, cơn dông, s ấm sét và gió Lào.
Số ngày giông của mùa hè từ tháng 5 đến tháng 9 chiếm tới 75-85% s ngày giông của cả năm. Mùa hè, biển đóng vai trò làm dịu hoà khí hậu và tăng cường độ ẩm cho gió mùa Tây Nam khi thổi vòng qua Vịnh Bắc Bộ vào đồng bằng, nhờ vậy mùa nóng ở Đồng bằng sông Hồng ít khắc nghiệt hơn ở đồng bằng Trung bộ. Tuy nhiên, khi áp thấp ở đồng bằng xuống thấp, hút gió Tây về, đem lại một thời tiết khô nóng khắc nghiệt cũng như ở đồng bằng Trung bộ nhiệt độ trên dưới 40°C. Kiểu thời tiết này xuất hiện 5-10 ngày trong mỗi mùa hè.
Mùa hè trùng với mùa gió mang nhiều tính nhiễu động là mùa mưa ẩm. Những dạng nhiễu động hội tụ rãnh, giông bão xảy ra thất thường tạo những diễn biến vẻ mưa, gió, nhiệt, ẩm bất ổn định thường xuyên. Nhiều trường hợp đang là thời kỳ khô hạn gay gắt chuyển đột ngột sang tình trạng lụt úng nghiêm trọng. Nắng nóng, oi bức với mưa bão sụt giảm nhiệt độ không điều hoà mà hình thành tập trung theo từng đợt hoạt động riêng biệt.
Một năm vùng này hứng chịu 3-5 cơn bão đổ bộ vào, nhưng trong vòng hơn chục năm trở lại đây những cơn bão trên cấp 9 đổ bộ vào vùng Đồng bằng sông Hồng không nhiều. Nhiệt độ trên toàn vùng khá đồng đều, trung bình 23-24°C. Do độ sụt giảm của nhiệt độ trong mùa đông tạo nên chênh lệch nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất và lạnh nhất lên tới 12°C. Nhiệt độ thấp nhất 3-4°C.
Nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất 16-17°C. Mỗi đợt can thiệp của gió mùa cực đới, nhiệt độ sụt giảm, tăng lên đột ngột có khi 10° C/24h. Tổng nhiệt độ năm là 8000-9000 độ, cán cân bức xạ năm là 75-80 kcal/cm2/năm. Tình trạng ẩm ướt trong nửa sau mùa đông và đầu mùa xuân cao hơn các vùng khác.
Thời tiết nồm và mưa phùn kéo dài tới 30-40 ngày/năm, xuất hiện đột ngột, kéo dài suốt thời gian thịnh hành của gió mùa cực đới, rồi cũng chấm dứt đột ngột rồi chuyển sang hanh khô. Chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão, tốc độ gió trong bão 40-50m/s ở ven biển, 30-35m/s trong đồng bằng. Mưa trong bão rất to, tới 400-500mm/đợt, 200- 300mm/ngày. Lượng mưa hàng năm từ 1500-2500 mm.
Thời tiết sương muối hiếm khi xuất hiện ở đồng bằ Trong mùa đông Đồng bằng sông Hồng có hai hệ thống gió là hệ thống cực đới (hướng Bắc, Đông Bác), hệ thống tín phong (Đông, Đông Bắc). Mùa hè áp thấp Bắc Bộ chuyển hướng gi chính là Tây Nam của hệ thống gió mùa hè thành Đông Nam [ 14, tr.4-5], [38] * Thuỷ văn Đồng bằng sông Hồng có mật độ sông khá dày, khoảng 0,5-Ikm/kmÊ của hai hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình. Cả hai con sông Hồng và Thái Bình đều chịu ảnh hưởng của nhịp điệu gió mùa nên thuỷ chế thất thường: mùa mưa có nhiều nước quá, mùa khô ít nước, tuy vẫn còn đủ để giao thông quanh năm. Thời gian lũ từ t 1g 6-10 dương lịch, tháng đỉnh lũ là tháng 8 dương lịch, lượng nước bình quân mị lũ là 74% và riêng tháng 8 cũng có lượng nước bằng 7 tháng mùa cạn.
Sông Hồng bồi đắp phù sa và mở rộng đồng bằng châu thổ nhưng cũng gieo. rắc nhiều thảm hoạ cho nhân dân, đó là những trận lũ rất đột ngột và phức tạp. Lũ do nhiều nhân tố tác động trong đó chủ yếu là do các điều kiện khí tượng thuỷ văn. Lưu lượng nước bình quân 3630m)/s và tổng lượng dòng chảy 114.
Sông Thái Bình là sông lớn thứ 2 sau sông Hồng ở ác Bộ, nằm hoàn toàn trên lãnh thổ nước ta. Nếu kể toàn hệ thống sông Thái Bình thì có tới 149 sông tất. Lượng dòng cả. Các sông đều tồn tại và phát triển trên một nền địa hình khá tl chay nướ 1g Thai Bình không phong phú lắm vào khoảng 262m‘/s.
Ché độ nước của sông Thái Bình phức tạp, một mặt mang tính chất sông, nhất là trong. mùa lũ, mặt khác lại mang tính chất biển, nhất là trong mùa cạn. Sông Thái Bình chịu ảnh hưởng của thuỷ triều, do các cửa sông dạng vịnh. Do tác dụng của thuỷ ig Thai Bình chịu ảnh hưởng của mặn, tuy rất nhỏ so với nước biển, vào.
khoảng 0,01-0,02% song ảnh hưởng nhiều tới cây lương thực [I, tr. Đặc điểm kinh tế - văn hoá - xã hội * Kinh tế Đối với cả nước, vị trí vai trò của vùng Đồng bằng sông Hồng ngày càng tăng lên. Đó là yêu cầu của cả nước, vừa là thực tế có thể đóng góp của vùng này.