Luận văn thạc sĩ khoa học thư viện nghiên cứu nhu cầu tin và khả năng đáp ứng thông tin cho người dùng tin tại học viện kỹ thuật quân sự

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật phân tích thư viện nghiên cứu nhu cầu tin và khả năng đáp ứng thông tin cho người dùng tin tại học viện kỹ, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất

Chuyên ngành

Khoa học Thư viện

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2011

118
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Hướng dẫn toàn diện luận văn về nhu cầu tin tại HVKTQS

Luận văn thạc sĩ khoa học thư viện và thông tin với đề tài “Nghiên cứu nhu cầu tin và khả năng đáp ứng thông tin cho người dùng tin tại Học viện Kỹ thuật Quân sự” là một công trình nghiên cứu chuyên sâu, có giá trị lý luận và thực tiễn cao. Bối cảnh bùng nổ thông tin toàn cầu đặt ra yêu cầu cấp thiết cho các trung tâm thông tin, đặc biệt là trong môi trường giáo dục đặc thù như Học viện Kỹ thuật Quân sự (HVKTQS). Nghiên cứu này không chỉ làm rõ cơ sở lý luận về người dùng tinnhu cầu tin mà còn đi sâu phân tích thực trạng tại một trong những cơ sở đào tạo kỹ thuật quân sự hàng đầu của đất nước. Mục đích chính của luận văn là xác định chính xác nhu cầu thông tin của người dùng, đánh giá khả năng đáp ứng thông tin thư viện, từ đó đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động. Công trình kế thừa các nghiên cứu trước đó nhưng tạo ra sự khác biệt khi tập trung vào đối tượng người dùng tin khối ngành kỹ thuật trong môi trường quân sự, một lĩnh vực chưa được khai thác sâu. Luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như phân tích tài liệu, khảo sát bằng phiếu, phỏng vấn và thống kê, đảm bảo tính khách quan và toàn diện cho kết quả.

1.1. Tầm quan trọng của việc nghiên cứu nhu cầu người dùng tin

Nhu cầu tin được xem là nguồn gốc và động lực của mọi hoạt động thông tin thư viện. Theo các nhà nghiên cứu, đây là "đòi hỏi khách quan của con người đối với việc tiếp nhận và sử dụng thông tin nhằm duy trì hoạt động sống" [16, tr.12]. Trong môi trường học thuật, đặc biệt là tại HVKTQS, việc nắm bắt chính xác nhu cầu này quyết định trực tiếp đến chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học. Nếu không hiểu rõ người dùng cần gì, thư viện sẽ không thể phát triển vốn tài liệu một cách hiệu quả, dẫn đến lãng phí nguồn lực và không thể thỏa mãn nhu cầu tin của cán bộ, giảng viên và học viên. Nghiên cứu nhu cầu tin giúp định hướng cho việc xây dựng các sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện phù hợp, từ đó nâng cao vai trò của thư viện, biến nơi đây thành "giảng đường thứ hai" thực thụ.

1.2. Phân loại và đặc điểm người dùng tin khối ngành kỹ thuật

Tại HVKTQS, người dùng tin được phân thành ba nhóm chính với những đặc điểm riêng biệt. Nhóm thứ nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, chiếm 4,8% tổng số, có trình độ học vấn cao (đa số là thạc sĩ, tiến sĩ), nhu cầu tin mang tính tổng hợp, dự báo và cần thông tin cô đọng, súc tích để ra quyết định. Nhóm thứ hai là cán bộ nghiên cứu và giảng dạy (12,7%), đây là nhóm có nhu cầu tin chuyên sâu, đòi hỏi thông tin phải cập nhật, có tính thời sự cao để phục vụ công tác chuyên môn. Nhóm thứ ba, đông đảo nhất, là học viên và sinh viên (82,6%), chủ yếu ở độ tuổi trẻ, năng động, có nhu cầu tin lớn phục vụ học tập và có xu hướng ưa thích các nguồn tài liệu điện tử và tra cứu trên Internet. Việc phân loại này là cơ sở quan trọng để thư viện xây dựng các chiến lược phục vụ riêng biệt, tối ưu hóa trải nghiệm cho từng đối tượng.

II. Thách thức trong việc đáp ứng thông tin cho người dùng

Mặc dù có vai trò trung tâm, thư viện Học viện Kỹ thuật Quân sự phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu thông tin ngày càng đa dạng của người dùng. Thách thức lớn nhất đến từ sự chênh lệch giữa kỳ vọng của người dùng và khả năng đáp ứng thông tin thư viện hiện tại. Người dùng, đặc biệt là nhóm nghiên cứu và học viên, đòi hỏi các nguồn tài liệu điện tử phong phú, các cơ sở dữ liệu quốc tế và các tài liệu chuyên ngành mới nhất. Tuy nhiên, việc phát triển vốn tài liệu theo hướng này gặp nhiều khó khăn về kinh phí và bản quyền. Bên cạnh đó, hành vi tìm kiếm thông tin của người dùng đã thay đổi mạnh mẽ với sự phổ biến của Internet. Họ quen với việc tìm kiếm nhanh chóng và tiện lợi, điều này tạo áp lực buộc thư viện phải hiện đại hóa, xây dựng thư viện số và cải tiến giao diện tra cứu. Một thách thức khác là việc duy trì và nâng cao chất lượng dịch vụ thư viện, bao gồm thái độ phục vụ của cán bộ, tốc độ xử lý yêu cầu và sự đa dạng của các sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện.

2.1. Phân tích hành vi tìm kiếm thông tin đa dạng của NDT

Kết quả khảo sát cho thấy hành vi tìm kiếm thông tin của người dùng tại HVKTQS rất đa dạng. Đa số người dùng (58%) dành từ 2-4 giờ mỗi ngày cho việc thu thập thông tin. Nguồn khai thác thông tin được ưa chuộng nhất là Thư viện HVKTQS (43,1%), theo sau là Internet (33,8%). Điều này cho thấy thư viện vẫn là địa chỉ tin cậy nhưng đang phải cạnh tranh mạnh mẽ với các nguồn tin trực tuyến. Về loại hình tài liệu, sách (36%) và báo, tạp chí (27,9%) vẫn là lựa chọn hàng đầu, nhưng nhu cầu sử dụng tài liệu điện tử (13,6%) đang tăng nhanh và cao hơn nhiều so với khả năng cung cấp hiện tại của thư viện. Những thói quen này đòi hỏi hoạt động thông tin thư viện phải linh hoạt, kết hợp hài hòa giữa các phương thức phục vụ truyền thống và hiện đại.

2.2. Đánh giá khả năng đáp ứng thông tin thư viện hiện tại

Luận văn đã tiến hành đánh giá hoạt động thư viện trên nhiều phương diện. Về nguồn lực thông tin, dù đã có nhiều cố gắng, vốn tài liệu vẫn chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu chuyên sâu và tính cập nhật cao của các ngành kỹ thuật quân sự mũi nhọn. Đặc biệt, nguồn tài liệu điện tử và tài liệu ngoại văn (tiếng Anh) còn hạn chế. Về sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện, các dịch vụ truyền thống như đọc tại chỗ (88,8% sử dụng) và mượn về nhà (80,5% sử dụng) hoạt động tốt. Tuy nhiên, các dịch vụ hiện đại như thư mục chuyên đề, thông báo sách mới, dịch tài liệu lại có tỷ lệ người dùng rất thấp, cho thấy hoạt động truyền thông và quảng bá chưa hiệu quả. Cơ sở vật chất được đầu tư nhưng vẫn cần nâng cấp để theo kịp xu hướng thư viện số.

III. Phương pháp nghiên cứu nhu cầu tin và khả năng đáp ứng

Để đảm bảo tính khoa học và độ tin cậy, luận văn đã áp dụng một hệ thống phương pháp nghiên cứu chặt chẽ và đa dạng. Nền tảng phương pháp luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với các quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục và khoa học công nghệ. Phương pháp chủ đạo được sử dụng là khảo sát thực tế thông qua phiếu điều tra. Tổng số 6.000 phiếu đã được phát ra cho ba nhóm người dùng tin chính, và thu về 4.597 phiếu hợp lệ. Dữ liệu thu thập được xử lý bằng phương pháp thống kê để phân tích các đặc điểm về nhu cầu thông tin của người dùng, thói quen sử dụng và mức độ hài lòng. Bên cạnh đó, phương pháp phỏng vấn trực tiếp cán bộ thư viện và người dùng tin được tiến hành để làm rõ hơn các vấn đề định tính. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu được sử dụng để xây dựng cơ sở lý luận và so sánh, đối chiếu kết quả nghiên cứu với các công trình liên quan, từ đó đưa ra những nhận định, đánh giá khách quan về khả năng đáp ứng thông tin thư viện tại HVKTQS.

3.1. Quy trình khảo sát nhu cầu thông tin của người dùng

Quy trình khảo sát được thiết kế bài bản. Phiếu điều tra được xây dựng nhằm tìm hiểu các thông tin chính: đặc điểm nhân khẩu học của người dùng, nội dung thông tin cần thiết, loại hình và ngôn ngữ tài liệu ưa thích, tập quán sử dụng thông tin (thời gian, nguồn khai thác), và mức độ thỏa mãn nhu cầu tin đối với các dịch vụ của thư viện. Việc chọn mẫu được thực hiện ngẫu nhiên nhưng đảm bảo tính đại diện cho cả ba nhóm đối tượng: cán bộ quản lý, cán bộ nghiên cứu-giảng dạy, và học viên-sinh viên. Các phiếu sau khi thu về được sàng lọc, mã hóa và nhập liệu để phân tích bằng các công cụ thống kê, đảm bảo kết quả phản ánh trung thực thực trạng nhu cầu thông tin của người dùng.

3.2. Tiêu chí đánh giá mức độ thỏa mãn nhu cầu tin của NDT

Mức độ thỏa mãn nhu cầu tin được đánh giá dựa trên nhiều tiêu chí cụ thể. Các tiêu chí này bao gồm: mức độ đầy đủ của nội dung thông tin theo chuyên ngành; sự đa dạng của các loại hình tài liệu (sách, báo, luận án, tài liệu điện tử); chất lượng của các sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện (từ tra cứu, mượn trả đến các dịch vụ giá trị gia tăng); sự tiện nghi của cơ sở vật chất, trang thiết bị; và thái độ phục vụ của đội ngũ cán bộ thư viện. Mỗi tiêu chí được lượng hóa thông qua các câu hỏi trong phiếu khảo sát, cho phép tác giả luận văn đưa ra những con số cụ thể về tỷ lệ hài lòng và chưa hài lòng, từ đó xác định chính xác những điểm mạnh cần phát huy và những điểm yếu cần khắc phục trong hoạt động thông tin thư viện.

IV. Top 5 giải pháp nâng cao khả năng đáp ứng thông tin

Trên cơ sở phân tích sâu sắc thực trạng, luận văn đã đề xuất một hệ thống các giải pháp đồng bộ và khả thi nhằm nâng cao khả năng đáp ứng thông tin thư viện tại HVKTQS. Các giải pháp này được chia thành hai nhóm chính: nhóm giải pháp nâng cao năng lực đáp ứng của thư viện và nhóm giải pháp phát triển nhu cầu tin từ phía người dùng. Mục tiêu cuối cùng là tạo ra sự tương tác hiệu quả giữa thư viện và bạn đọc, biến thư viện thành một trung tâm thông tin - thư viện hiện đại, năng động, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp đào tạo và nghiên cứu của Học viện. Những giải pháp này không chỉ mang tính tình thế mà còn có tầm nhìn chiến lược, hướng tới việc xây dựng một môi trường thông tin học thuật tiên tiến, hội nhập. Việc triển khai thành công các giải pháp này sẽ góp phần quyết định vào việc thỏa mãn nhu cầu tin ngày càng cao của người dùng.

4.1. Giải pháp phát triển vốn tài liệu và nguồn lực thông tin

Đây là giải pháp nền tảng. Luận văn nhấn mạnh sự cần thiết phải phát triển vốn tài liệu theo hướng cân đối giữa tài liệu truyền thống và hiện đại. Cụ thể, cần tăng cường bổ sung sách, giáo trình chuyên ngành mới, đặc biệt là tài liệu ngoại văn bằng tiếng Anh. Quan trọng hơn, thư viện phải đầu tư mạnh mẽ vào việc mua quyền truy cập các cơ sở dữ liệu khoa học trực tuyến, phát triển bộ sưu tập nguồn tài liệu điện tử và số hóa các tài liệu nội sinh có giá trị cao như luận án, luận văn, kết quả nghiên cứu khoa học. Việc này không chỉ làm phong phú nguồn lực thông tin mà còn giúp người dùng tiếp cận thông tin mọi lúc, mọi nơi.

4.2. Ứng dụng công nghệ và xây dựng thư viện số hiện đại

Giải pháp đột phá là đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin. Thư viện cần hoàn thiện và nâng cấp phần mềm quản lý, xây dựng một cổng thông tin hay một website thư viện số thân thiện, tích hợp nhiều tính năng tìm kiếm thông minh. Cần triển khai các dịch vụ trực tuyến như gia hạn tài liệu, đặt trước tài liệu, tư vấn thông tin qua mạng. Việc xây dựng thư viện số không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là giải pháp hiệu quả để giải quyết bài toán không gian và thời gian, giúp thư viện phục vụ được nhiều người dùng hơn với chi phí tối ưu, qua đó cải thiện đáng kể chất lượng dịch vụ thư viện.

4.3. Cải thiện công tác bạn đọc và đào tạo người dùng tin

Để các nguồn lực thông tin được khai thác hiệu quả, cần chú trọng đến công tác bạn đọc. Thư viện nên tổ chức thường xuyên các lớp đào tạo, hướng dẫn kỹ năng tìm kiếm và đánh giá thông tin cho học viên, sinh viên năm nhất. Cần đẩy mạnh hoạt động marketing, truyền thông về các sản phẩm, dịch vụ và nguồn tài liệu điện tử mới thông qua email, website, và các kênh mạng xã hội. Việc tăng cường tương tác, thu thập phản hồi từ người dùng sẽ giúp thư viện liên tục cải tiến, điều chỉnh hoạt động cho phù hợp, từ đó nâng cao mức độ thỏa mãn nhu cầu tin một cách bền vững.

27/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI DÙNG TIN VÀ NHU CÀU TIN TẠI HỌC VIỆN KỸ THUẬT QUÂN SỰ 1. NHUNG VAN DE CHUNG VE NGUOI DUNG TIN VA NHU CAU TIN 1. Khái niệm NDT và như cầu tin: * Người dùng tin là người tiêu dùng các sản phẩm và dịch vụ thông tin. Vì vậy NDT là đố ¡ tác, khách hàng của hoạt động thông tin.

Hoạt động thông tin muốn tôn t phải quan tâm tới nhu cẩu tin của người diing tin trong từng thời điểm và địa bàn cụ thể”[16, tr. §] Người dùng tin là nguồn gốc nảy sinh hoạt động thông tin. Không có NDT không tồn tại hoạt động thông tin. Nói cách khác, NDT là nhân tố điều chỉnh, định hướng cho hoạt động thông tin.

Ý kiến đánh giá của NDT trong quá trình sử dụng thông tin góp phan điều chỉnh hoạt động thông tin theo hướng phù hợp và hiệu quả hơn với nhu cầu của NDT. Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý nằm trong cấu trúc tâm lý chung của con người. Các nhà kinh điền của Chủ nghĩa Mác ~ Lênin cho rằng nhu cầu là đòi hỏi khách quan của con người với một đối tượng nhất định, trong những. điều kiện nhất định, đảm bảo duy trì cho sự sống và sự phát triển của con người.

“Theo quan điềm của tâm lý học Mác xít, có thé coi “Nhu câu tin là đỏi hỏi khách quan của con người đối với việc tiếp nhận và sử dụng thông tin nhằm duy trì hoạt động sóng của con người” [16, tr. Những yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu tin của người dùng tin Nhu cầu tin của con người biến đổi cùng với hoàn cảnh xã hội và chịu sự tác động của những yếu tố khách quan và chủ quan. 12 * Yếu tố khách quan: 'Yếu tố khách quan là những yếu tố bên ngoài tác động đến nhu cầu của 'NDT. Trong kỷ nguyên mới, nhu cầu của NDT chịu tác động của một số yếu tố như: Xã hội thông tin toàn cầu, công cuộc đổi mới đất nước, đổi mới giáo dục, đặc thù của hoạt động nghề nghiệp.

Khi bước sang thế kỷ XXI, chúng ta phải đương đầu với không chỉ sự thay đổi về kỷ nguyên mà cả sự thay đổi về cấu trúc của nó. Một trong những điểm đáng chú ý nhất của sự thay đổi là vấn đề toàn cầu hóa. Thế giới xung quanh ta bao la rộng lớn sẽ trở thành sở hữu chung toàn cầu, những tiến bộ khoa học kỹ thuật được truyền tải qua mạng thông tin viễn thông và công nghệ thông tin. Sự bùng nổ của trí thức và sự toàn cầu hóa ngày càng phát triển cùng với sự gia tăng và biến đổi về tri thức [29.

Công cuộc đổi mới đất nước đang diễn ra từng ngày, từng giờ tác đông trực tiếp đến mỗi con người, mỗi tô chức xã hội. Các chủ trương thông thoáng hơn đã cởi trói cho nhiều ngành, nhiều cấp trong đó có ngành giáo dục. Đổi mới giáo dục đem đến một luồng sinh khí mới cho các trường đại học, góp phần biến đổi mối quan hệ thầy trò, biến họ thành những chủ thể năng động, sáng tạo trong quá trình giảng dạy, học tập, truyền đạt và lĩnh hội trí thức. Công cuộc đổi mới đất nước, đổi mới giáo dục cùng xu thế hội nhập đã tác động đến NDT nói chung và NDT tại Học viện KTQS nói riêng, khiến họ trở nên năng động, sáng tạo hơn.

Nhu cầu tin của họ vì vậy, cũng trở nên sâu rộng, cấp bách hơn. Đặc thù của hoạt động giảng dạy, học tập trong trường đại học là truyền đạt và lĩnh hội tri thức. Cả người dạy và người học đều cần đến thông tin, thường xuyên tiếp nhận, xử lý và biến thông tin thành tri thức. Trong kỷ 13 nguyên của xã hội thông tin và toàn cầu hóa, nhu cầu tin của giảng viên, sinh viên cũng thay đổi, phát triển theo hướng sâu sắc hơn, đòi hỏi phải được đáp.

ứng đầy đủ, kịp thời hơn. Nội dung thông tin mà NDT Học viện KTQS cần hiện nay không chỉ bó hẹp trong lĩnh vực chuyên ngành của họ mà mở rộng ra các lĩnh vực khác như: chính trị xã hội, văn hóa nghệ thuật,. phù hợp với xu thế giao lưu của thời đại. Loại hình tài liệu NDT mong muốn sử dụng không chỉ đóng khung trong sách, báo, tạp chí.

là các loại hình truyền thống mà phát triển sang các loại hình hiện đại như bãng, đĩa, tài liệu điện tử. là những loại hình sống động, mang nhiều thông tin, dễ cập nhật. Xu hướng hội nhập toàn cầu đã khiến cho ngôn ngữ tài liệu NDT cần không chỉ dừng lại ở tiếng mẹ đẻ mà phát triển sang cả tiếng Anh là ngôn ngữ quốc tế thông dụng. Bên cạnh đó, nhu cầu tin nằm trong hệ thống nhu cầu chung rất đa dạng và phong phú của mỗi người nói riêng và xã hội nói chung, do đó nó chịu ảnh hưởng khá sâu sắc của các diều kiện môi trường xã hội.

Đời sống văn hóa tỉnh thần phong phú là tiền đề cho nhu cầu tin phát tiền. Nền văn hóa phát triển sẽ sản sinh ra thông tin đa đạng, sẽ được lưu giữ và chuyển tải bằng nhiều phương tiên khác nhau để có thể bảo quản và lưu truyền lại cho các thế hệ sau. Tính chất và trình độ lực lượng sản xuất ảnh hưởng trực tiếp tới nhu cầu tin. Trình độ sản xuất càng cao đòi hỏi phải có nhiều thông tin và kiến thức hơn, đồng thời cũng sản sinh ra các phương tiện truyền tin hiện đại hơn.

Ngày nay, với các thành tựu khoa học công nghệ hiện đại, tài liệu điện tử ngày càng phổ biến, thay thế tài liệu giấy truyền thống, mạng Internet ngày càng được phổ biến,. Bên cạnh đó, sản xuất phát triển làm cho đời sống vật chất được nâng cao đã ảnh hưởng lớn tới đời sống văn hóa tỉnh thần của mỗi người trong xã hội, trong đó có nhu cầu tin của họ. 14 Các quan hệ xã hội lành mạnh, hài hòa và chế độ dân chủ cũng góp phần làm cho con người tự do hơn (đời sống tinh thần phong phú hơn) kích thích nhu cầu tin phát triển. Hoạt động lao động nghề nghiệp là hoạt động chủ đạo trong một giai đoạn rất dài của cuộc đời, từ khi con người trưởng thành (là công dân) đến hết độ tuổi lao động.

Vì vậy tính chất lao động nghề nghiệp có ảnh hưởng lớn tới xu hướng của con người, tới hệ thống nhu cầu, trong đó có nhu cầu tin. Nghề nghiệp khác nhau để lại những dấu ấn khác nhau trong nội dung nhu cầu tin và tập quán sử dụng thông tin của mỗi người [16, tr.20] Đặc điểm tâm lý lứa tuổi, giới tính khác nhau cũng là những yếu tố có ảnh hưởng sâu sắc đến nhu cầu tin của con người. Mỗi giai đoạn lứa tuổi trong cuộc đời con người có những đặc điểm tâm lý riêng do hoạt động chủ đạo chỉ phối. Cũng như do đặc điểm sinh lý khác nhau, các giới khác nhau cũng có những đặc điểm tâm lý riêng.

Các đặc điểm lứa tuổi, giới tính khác nhau được thể hiện trong nội dung và cách thức thỏa mãn nhu cầu tin của mỗi người [ló, tr.21-23] Như vậy, bên cạnh những yếu tố môi trường xã hội, nghề nghiệp, lứa tuổi, giới tính, thì xu thế chung của thời đại cũng có ảnh hưởng đến nhu cầu tin của con người trong đó có NDT Học viện KTQS, khiến con người phải thay đổi và tiến lên phía trước. NDT tại Học viện KTQSđang chuyển mình để đáp ứng những đòi hỏi của xã hội. Nhu cầu tin của họ vì vậy phát triển theo xu hướng tích cực, sâu sắc và mở rộng hơn. * Yếu tố chủ quan: Trình độ văn hóa có ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống tỉnh thần của con người (nhu cầu hiễu biết và nhu cầu thảm mỹ phát triển).

15 Là một nhu cầu tỉnh thần, nhu cầu tin cũng bị chỉ phối bởi trình độ văn hóa của con người (nội dung và phương thức thỏa mãn), Bên cạnh đó, “nhân cách” cũng là một trong những yếu tố có ảnh hưởng đến nhu cầu tin của con người. Nhân cách là toàn bộ những đặc điểm, phẩm chất tâm lý của cá nhân, quy định hành vi xã hội và giá trị xã hội của họ. Nhu cầu là một bộ phận cấu thành xu hướng — một thuộc tính quan trọng của nhân cách con người. Nhân cách tồn tại và phát triển trong hoạt động.

Nhân cách càng phát triển, dẫn đến hoạt động càng phong phú, nhu cầu tin sẽ ngày càng cao, càng nhạy cảm [1ó6, tr.23] 1 Vai trò của nhu cầu tin trong hoạt động thông tin - thư viện Khi đòi hỏi của con người về thông tin trở nên cấp thiết thì nhu cầu tin xuất hiện. Đó là một dạng nhu cầu tỉnh thần của con người nảy sinh trong quá trình thực hiện các hoạt động khác nhau của con người. Bắt kỳ hoạt động nào. muốn đạt được kết quả tốt đẹp cũng cần phải có thông tin đầy đủ.

càng phức tạp, nhu cầu được cung cấp thông tin càng cao. Nhu cầu tin phát triển lại tác động trở lại tới sự phát triền các hoạt động, góp phần phát triển xã hội. Nhu cầu tin là yếu tố quan trọng tạo nên động cơ của hoạt động thông tin, vì vậy có thể coi nhu cầu tin là nguồn gốc làm nảy sinh hoạt động thông tin. HỌC VIỆN KỸ THUẬT QUÂN SỰ VÀ ĐẶC ĐIÊM NGƯỜI ĐÙNG TIN Học viện KTQS ngày nay tiền thân là “Phân hiệu II Đại học Bách khoa” được thành lập theo quyết định 146/CP ngày 08/08/1966 của Hội đồng Chính phủ.

Ngày 28/10/1966 Bộ Quốc Phòng, Bộ Đại học và trung học chuyên nghiệp long trọng tổ chức lễ thành lập Phân hiệu II Đại học Bách Khoa đồng. thời khai giảng đào tạo khóa I tại Thủ đô Hà Nội. Từ đó đến nay hàng năm Học viện KTQS lấy ngày 28/10 là ngày truyền thống. 16 Ngày 13/06/1968 “ Phân hiệu II Đại học Bách Khoa” được đổi tên thành Đại học Kỹ thuật Quân sự.

Ngay 15/12/1981 Bộ Quốc Phòng quyết định thành lập Học viện KTQS trên cơ sở Đại học Kỹ thuật Quân sự [12] Kế thừa và phát huy truyền thống Quân đội nhân dân Việt Nam, trải qua gần 45 năm xây dựng và phát triển, Học viện KTQS đã trưởng thành nhanh chóng đạt được nhiều thành tích trong công tác giáo dục và đào tạo, nghiên cứu khoa học và xây dựng tiềm lực. Trong quá trình đào tạo Học viện KTQS đã không ngừng phấn đấu vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vu là một trung tâm giáo dục dao tạo nguồn nhân lực công nghệ cao của đất nước. Trong gần 45 năm qua Học viện KTQS đã đạt được nhiều thành tích trong công tác đảo tạo và nghiên cứu khoa học.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ