Chương I KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI DÙNG TIN VÀ NHU CÀU TIN TẠI HỌC VIỆN KỸ THUẬT QUÂN SỰ 1. NHUNG VAN DE CHUNG VE NGUOI DUNG TIN VA NHU CAU TIN 1. Khái niệm NDT và như cầu tin: * Người dùng tin là người tiêu dùng các sản phẩm và dịch vụ thông tin. Vì vậy NDT là đố ¡ tác, khách hàng của hoạt động thông tin.
Hoạt động thông tin muốn tôn t phải quan tâm tới nhu cẩu tin của người diing tin trong từng thời điểm và địa bàn cụ thể”[16, tr. §] Người dùng tin là nguồn gốc nảy sinh hoạt động thông tin. Không có NDT không tồn tại hoạt động thông tin. Nói cách khác, NDT là nhân tố điều chỉnh, định hướng cho hoạt động thông tin.
Ý kiến đánh giá của NDT trong quá trình sử dụng thông tin góp phan điều chỉnh hoạt động thông tin theo hướng phù hợp và hiệu quả hơn với nhu cầu của NDT. Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý nằm trong cấu trúc tâm lý chung của con người. Các nhà kinh điền của Chủ nghĩa Mác ~ Lênin cho rằng nhu cầu là đòi hỏi khách quan của con người với một đối tượng nhất định, trong những. điều kiện nhất định, đảm bảo duy trì cho sự sống và sự phát triển của con người.
“Theo quan điềm của tâm lý học Mác xít, có thé coi “Nhu câu tin là đỏi hỏi khách quan của con người đối với việc tiếp nhận và sử dụng thông tin nhằm duy trì hoạt động sóng của con người” [16, tr. Những yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu tin của người dùng tin Nhu cầu tin của con người biến đổi cùng với hoàn cảnh xã hội và chịu sự tác động của những yếu tố khách quan và chủ quan. 12 * Yếu tố khách quan: 'Yếu tố khách quan là những yếu tố bên ngoài tác động đến nhu cầu của 'NDT. Trong kỷ nguyên mới, nhu cầu của NDT chịu tác động của một số yếu tố như: Xã hội thông tin toàn cầu, công cuộc đổi mới đất nước, đổi mới giáo dục, đặc thù của hoạt động nghề nghiệp.
Khi bước sang thế kỷ XXI, chúng ta phải đương đầu với không chỉ sự thay đổi về kỷ nguyên mà cả sự thay đổi về cấu trúc của nó. Một trong những điểm đáng chú ý nhất của sự thay đổi là vấn đề toàn cầu hóa. Thế giới xung quanh ta bao la rộng lớn sẽ trở thành sở hữu chung toàn cầu, những tiến bộ khoa học kỹ thuật được truyền tải qua mạng thông tin viễn thông và công nghệ thông tin. Sự bùng nổ của trí thức và sự toàn cầu hóa ngày càng phát triển cùng với sự gia tăng và biến đổi về tri thức [29.
Công cuộc đổi mới đất nước đang diễn ra từng ngày, từng giờ tác đông trực tiếp đến mỗi con người, mỗi tô chức xã hội. Các chủ trương thông thoáng hơn đã cởi trói cho nhiều ngành, nhiều cấp trong đó có ngành giáo dục. Đổi mới giáo dục đem đến một luồng sinh khí mới cho các trường đại học, góp phần biến đổi mối quan hệ thầy trò, biến họ thành những chủ thể năng động, sáng tạo trong quá trình giảng dạy, học tập, truyền đạt và lĩnh hội trí thức. Công cuộc đổi mới đất nước, đổi mới giáo dục cùng xu thế hội nhập đã tác động đến NDT nói chung và NDT tại Học viện KTQS nói riêng, khiến họ trở nên năng động, sáng tạo hơn.
Nhu cầu tin của họ vì vậy, cũng trở nên sâu rộng, cấp bách hơn. Đặc thù của hoạt động giảng dạy, học tập trong trường đại học là truyền đạt và lĩnh hội tri thức. Cả người dạy và người học đều cần đến thông tin, thường xuyên tiếp nhận, xử lý và biến thông tin thành tri thức. Trong kỷ 13 nguyên của xã hội thông tin và toàn cầu hóa, nhu cầu tin của giảng viên, sinh viên cũng thay đổi, phát triển theo hướng sâu sắc hơn, đòi hỏi phải được đáp.
ứng đầy đủ, kịp thời hơn. Nội dung thông tin mà NDT Học viện KTQS cần hiện nay không chỉ bó hẹp trong lĩnh vực chuyên ngành của họ mà mở rộng ra các lĩnh vực khác như: chính trị xã hội, văn hóa nghệ thuật,. phù hợp với xu thế giao lưu của thời đại. Loại hình tài liệu NDT mong muốn sử dụng không chỉ đóng khung trong sách, báo, tạp chí.
là các loại hình truyền thống mà phát triển sang các loại hình hiện đại như bãng, đĩa, tài liệu điện tử. là những loại hình sống động, mang nhiều thông tin, dễ cập nhật. Xu hướng hội nhập toàn cầu đã khiến cho ngôn ngữ tài liệu NDT cần không chỉ dừng lại ở tiếng mẹ đẻ mà phát triển sang cả tiếng Anh là ngôn ngữ quốc tế thông dụng. Bên cạnh đó, nhu cầu tin nằm trong hệ thống nhu cầu chung rất đa dạng và phong phú của mỗi người nói riêng và xã hội nói chung, do đó nó chịu ảnh hưởng khá sâu sắc của các diều kiện môi trường xã hội.
Đời sống văn hóa tỉnh thần phong phú là tiền đề cho nhu cầu tin phát tiền. Nền văn hóa phát triển sẽ sản sinh ra thông tin đa đạng, sẽ được lưu giữ và chuyển tải bằng nhiều phương tiên khác nhau để có thể bảo quản và lưu truyền lại cho các thế hệ sau. Tính chất và trình độ lực lượng sản xuất ảnh hưởng trực tiếp tới nhu cầu tin. Trình độ sản xuất càng cao đòi hỏi phải có nhiều thông tin và kiến thức hơn, đồng thời cũng sản sinh ra các phương tiện truyền tin hiện đại hơn.
Ngày nay, với các thành tựu khoa học công nghệ hiện đại, tài liệu điện tử ngày càng phổ biến, thay thế tài liệu giấy truyền thống, mạng Internet ngày càng được phổ biến,. Bên cạnh đó, sản xuất phát triển làm cho đời sống vật chất được nâng cao đã ảnh hưởng lớn tới đời sống văn hóa tỉnh thần của mỗi người trong xã hội, trong đó có nhu cầu tin của họ. 14 Các quan hệ xã hội lành mạnh, hài hòa và chế độ dân chủ cũng góp phần làm cho con người tự do hơn (đời sống tinh thần phong phú hơn) kích thích nhu cầu tin phát triển. Hoạt động lao động nghề nghiệp là hoạt động chủ đạo trong một giai đoạn rất dài của cuộc đời, từ khi con người trưởng thành (là công dân) đến hết độ tuổi lao động.
Vì vậy tính chất lao động nghề nghiệp có ảnh hưởng lớn tới xu hướng của con người, tới hệ thống nhu cầu, trong đó có nhu cầu tin. Nghề nghiệp khác nhau để lại những dấu ấn khác nhau trong nội dung nhu cầu tin và tập quán sử dụng thông tin của mỗi người [16, tr.20] Đặc điểm tâm lý lứa tuổi, giới tính khác nhau cũng là những yếu tố có ảnh hưởng sâu sắc đến nhu cầu tin của con người. Mỗi giai đoạn lứa tuổi trong cuộc đời con người có những đặc điểm tâm lý riêng do hoạt động chủ đạo chỉ phối. Cũng như do đặc điểm sinh lý khác nhau, các giới khác nhau cũng có những đặc điểm tâm lý riêng.
Các đặc điểm lứa tuổi, giới tính khác nhau được thể hiện trong nội dung và cách thức thỏa mãn nhu cầu tin của mỗi người [ló, tr.21-23] Như vậy, bên cạnh những yếu tố môi trường xã hội, nghề nghiệp, lứa tuổi, giới tính, thì xu thế chung của thời đại cũng có ảnh hưởng đến nhu cầu tin của con người trong đó có NDT Học viện KTQS, khiến con người phải thay đổi và tiến lên phía trước. NDT tại Học viện KTQSđang chuyển mình để đáp ứng những đòi hỏi của xã hội. Nhu cầu tin của họ vì vậy phát triển theo xu hướng tích cực, sâu sắc và mở rộng hơn. * Yếu tố chủ quan: Trình độ văn hóa có ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống tỉnh thần của con người (nhu cầu hiễu biết và nhu cầu thảm mỹ phát triển).
15 Là một nhu cầu tỉnh thần, nhu cầu tin cũng bị chỉ phối bởi trình độ văn hóa của con người (nội dung và phương thức thỏa mãn), Bên cạnh đó, “nhân cách” cũng là một trong những yếu tố có ảnh hưởng đến nhu cầu tin của con người. Nhân cách là toàn bộ những đặc điểm, phẩm chất tâm lý của cá nhân, quy định hành vi xã hội và giá trị xã hội của họ. Nhu cầu là một bộ phận cấu thành xu hướng — một thuộc tính quan trọng của nhân cách con người. Nhân cách tồn tại và phát triển trong hoạt động.
Nhân cách càng phát triển, dẫn đến hoạt động càng phong phú, nhu cầu tin sẽ ngày càng cao, càng nhạy cảm [1ó6, tr.23] 1 Vai trò của nhu cầu tin trong hoạt động thông tin - thư viện Khi đòi hỏi của con người về thông tin trở nên cấp thiết thì nhu cầu tin xuất hiện. Đó là một dạng nhu cầu tỉnh thần của con người nảy sinh trong quá trình thực hiện các hoạt động khác nhau của con người. Bắt kỳ hoạt động nào. muốn đạt được kết quả tốt đẹp cũng cần phải có thông tin đầy đủ.
càng phức tạp, nhu cầu được cung cấp thông tin càng cao. Nhu cầu tin phát triển lại tác động trở lại tới sự phát triền các hoạt động, góp phần phát triển xã hội. Nhu cầu tin là yếu tố quan trọng tạo nên động cơ của hoạt động thông tin, vì vậy có thể coi nhu cầu tin là nguồn gốc làm nảy sinh hoạt động thông tin. HỌC VIỆN KỸ THUẬT QUÂN SỰ VÀ ĐẶC ĐIÊM NGƯỜI ĐÙNG TIN Học viện KTQS ngày nay tiền thân là “Phân hiệu II Đại học Bách khoa” được thành lập theo quyết định 146/CP ngày 08/08/1966 của Hội đồng Chính phủ.
Ngày 28/10/1966 Bộ Quốc Phòng, Bộ Đại học và trung học chuyên nghiệp long trọng tổ chức lễ thành lập Phân hiệu II Đại học Bách Khoa đồng. thời khai giảng đào tạo khóa I tại Thủ đô Hà Nội. Từ đó đến nay hàng năm Học viện KTQS lấy ngày 28/10 là ngày truyền thống. 16 Ngày 13/06/1968 “ Phân hiệu II Đại học Bách Khoa” được đổi tên thành Đại học Kỹ thuật Quân sự.
Ngay 15/12/1981 Bộ Quốc Phòng quyết định thành lập Học viện KTQS trên cơ sở Đại học Kỹ thuật Quân sự [12] Kế thừa và phát huy truyền thống Quân đội nhân dân Việt Nam, trải qua gần 45 năm xây dựng và phát triển, Học viện KTQS đã trưởng thành nhanh chóng đạt được nhiều thành tích trong công tác giáo dục và đào tạo, nghiên cứu khoa học và xây dựng tiềm lực. Trong quá trình đào tạo Học viện KTQS đã không ngừng phấn đấu vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vu là một trung tâm giáo dục dao tạo nguồn nhân lực công nghệ cao của đất nước. Trong gần 45 năm qua Học viện KTQS đã đạt được nhiều thành tích trong công tác đảo tạo và nghiên cứu khoa học.