Luận văn thạc sĩ khoa học thư viện nghiên cứu nhu cầu tin và khả năng đáp ứng nhu cầu tin cho người dùng tin của thư viện tỉnh thái nguyên

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu nhu cầu tin và khả năng đáp ứng của thư viện tỉnh Thái Nguyên, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ thư viện.

Chuyên ngành

Khoa học thư viện

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2008

119
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Luận văn thạc sĩ Tổng quan về nhu cầu tin thư viện Thái Nguyên

Luận văn thạc sĩ khoa học thư viện với đề tài "Nghiên cứu nhu cầu tin và khả năng đáp ứng nhu cầu tin cho người dùng tin của Thư viện tỉnh Thái Nguyên" là một công trình khoa học chuyên sâu, phân tích toàn diện thực trạng và đề xuất giải pháp cho một trong những vấn đề cốt lõi của hoạt động thư viện hiện đại. Trong bối cảnh thông tin trở thành nguồn lực sản xuất trực tiếp, việc nắm bắt và thỏa mãn nhu cầu tin của công chúng không chỉ là nhiệm vụ mà còn là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của các thư viện công cộng. Thư viện tỉnh Thái Nguyên, với vai trò là trung tâm văn hóa, khoa học và giáo dục của tỉnh, đứng trước yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ để phục vụ hiệu quả sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Công trình này tập trung làm rõ đặc điểm của người dùng tin, xác định các loại hình nhu cầu thông tin phổ biến và đánh giá chính xác khả năng đáp ứng nhu cầu tin của thư viện. Qua đó, luận văn không chỉ cung cấp một cái nhìn hệ thống về hoạt động của thư viện mà còn đưa ra những định hướng chiến lược, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho địa phương. Nghiên cứu này có ý nghĩa thực tiễn to lớn, là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà quản lý và cán bộ thư viện trong việc xây dựng và phát triển một hệ thống dịch vụ thông tin lấy người dùng làm trung tâm.

1.1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu nhu cầu người dùng tin

Pháp lệnh Thư viện năm 2000 đã khẳng định vai trò của thư viện là "trung tâm thông tin cộng đồng", có nhiệm vụ truyền bá tri thức, phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và giải trí. Để hoàn thành sứ mệnh này, việc nghiên cứu nhu cầu tin (NCT) của người dùng tin (NDT) trở thành một tất yếu khách quan. Xã hội phát triển kéo theo sự đa dạng hóa và phức tạp hóa của nhu cầu thông tin. Người dùng không chỉ tìm đến thư viện để giải trí mà còn để "đọc để làm giàu", tiếp cận công nghệ tiên tiến phục vụ sản xuất kinh doanh. Luận văn chỉ ra rằng, tại Thư viện tỉnh Thái Nguyên, việc nghiên cứu này chưa từng được thực hiện một cách hệ thống, dẫn đến tình trạng "số lượng yêu cầu tin bị từ chối vẫn thường xuyên xảy ra". Vì vậy, việc thực hiện đề tài là hết sức cần thiết nhằm tìm ra nguyên nhân và giải pháp, giúp thư viện đổi mới phương thức phục vụ, đa dạng hóa sản phẩm, đáp ứng tốt hơn mong đợi của cộng đồng.

1.2. Mục tiêu và nhiệm vụ chính của công trình nghiên cứu

Mục đích cốt lõi của luận văn là tìm hiểu thực trạng nhu cầu tin của người dùng tin tại Thư viện tỉnh Thái Nguyên và đánh giá khả năng đáp ứng nhu cầu tin của thư viện. Từ đó, tác giả đề xuất các kiến nghị và giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ. Để đạt được mục đích này, luận văn đặt ra các nhiệm vụ chính: Thứ nhất, tìm hiểu chức năng, nhiệm vụ của thư viện trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Thứ hai, tiến hành khảo sát, phân tích NCT của NDT trên nhiều phương diện. Thứ ba, đánh giá mức độ đáp ứng của thư viện dựa trên các tiêu chí về nguồn lực thông tin, sản phẩm, dịch vụ. Cuối cùng, xây dựng hệ thống các giải pháp khả thi để tăng cường và nâng cao chất lượng hoạt động thông tin tại thư viện, đảm bảo tính bền vững và phù hợp với xu thế phát triển chung.

1.3. Vài nét về vai trò của Thư viện tỉnh Thái Nguyên

Trải qua hơn 50 năm xây dựng và phát triển, Thư viện tỉnh Thái Nguyên đã trở thành một kho tàng tri thức quan trọng, phục vụ các nhiệm vụ chính trị, phổ biến khoa học kỹ thuật và nâng cao trình độ văn hóa cho nhân dân. Với vốn tài liệu khoảng 130.000 đơn vị, thư viện không chỉ phục vụ tại chỗ mà còn phát triển mạng lưới lưu động đến các vùng sâu, vùng xa. Trong giai đoạn đổi mới, vai trò của thư viện càng được nhấn mạnh, là công cụ giáo dục tư tưởng, chính trị, góp phần "nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài" theo tinh thần Pháp lệnh Thư viện [3, tr.7]. Thư viện còn là trung tâm hướng dẫn nghiệp vụ cho hệ thống thư viện công cộng toàn tỉnh, đóng vai trò nòng cốt trong việc thực hiện xã hội hóa công tác thư viện, đảm bảo mọi người dân đều có điều kiện tiếp cận tri thức.

II. Những thách thức trong việc đáp ứng nhu cầu tin thư viện

Mặc dù có vai trò quan trọng, Thư viện tỉnh Thái Nguyên phải đối mặt với nhiều thách thức lớn trong việc đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu tin ngày càng cao của người dùng. Một trong những rào cản lớn nhất đến từ sự hạn hẹp về nguồn lực. Luận văn chỉ rõ "kinh phí đầu tư cho hoạt động Thư viện nói chung, cho việc xây dựng vốn tài liệu nói riêng còn rất khiêm tốn". Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng và chất lượng tài liệu được bổ sung hàng năm, khiến thư viện khó lòng theo kịp sự phát triển của tri thức và sự đa dạng trong yêu cầu của người dùng tin. Bên cạnh đó, cơ sở vật chất được mô tả là "nghèo nàn", chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn của một thư viện hiện đại, gây khó khăn trong việc tổ chức các dịch vụ thông tin thư viện mới. Đội ngũ cán bộ cũng là một vấn đề nan giải, được nhận định là "còn nhiều bất cập (cả về số lượng và chất lượng)". Sự thiếu hụt nhân lực có trình độ chuyên môn cao làm hạn chế khả năng xử lý thông tin, tư vấn và hỗ trợ người dùng một cách chuyên nghiệp. Những thách thức này tạo ra một khoảng cách đáng kể giữa kỳ vọng của người dùng và khả năng đáp ứng nhu cầu tin thực tế của thư viện.

2.1. Hạn chế về nguồn kinh phí và cơ sở vật chất thư viện

Nguồn kinh phí bổ sung tài liệu của Thư viện tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn 2005-2007 rất hạn hẹp, chỉ từ 60 đến 90 triệu đồng mỗi năm. Với nguồn kinh phí này, thư viện chỉ có thể mua từ 1-3 bản cho mỗi đầu sách, dẫn đến tình trạng thiếu hụt các tài liệu có giá trị khoa học cao và các công trình nghiên cứu lớn. Cơ sở vật chất cũng là một điểm yếu cố hữu. Mặc dù đã có những bước tiến trong việc ứng dụng công nghệ thông tin, như việc xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL) trên phần mềm CDS/ILIB, nhưng tổng thể trang thiết bị vẫn chưa đồng bộ và hiện đại. Việc thiếu các thiết bị đọc tài liệu điện tử, không gian phục vụ hạn chế và hệ thống tra cứu chưa thực sự thân thiện đã làm giảm trải nghiệm và hiệu quả khai thác thông tin của người dùng tin.

2.2. Bất cập trong chất lượng và số lượng đội ngũ cán bộ

Chất lượng dịch vụ thư viện phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ cán bộ. Luận văn cho thấy, đội ngũ cán bộ tại Thư viện tỉnh Thái Nguyên còn nhiều bất cập. Về số lượng, 15 biên chế được phân bổ cho 3 phòng chức năng là không đủ để triển khai toàn diện các hoạt động chuyên môn phức tạp. Về chất lượng, mặc dù không có số liệu chi tiết về trình độ, nhưng nhận định chung cho thấy sự thiếu hụt cán bộ được đào tạo bài bản về khoa học thư viện hiện đại, đặc biệt là các kỹ năng về công nghệ thông tin, marketing thư viện và phát triển sản phẩm thông tin giá trị gia tăng. Điều này ảnh hưởng đến khả năng tư vấn, hướng dẫn tra cứu chuyên sâu và tổ chức các hoạt động thu hút bạn đọc, làm giảm hiệu quả hoạt động chung của thư viện.

III. Phương pháp phân tích đặc điểm người dùng tin thư viện

Để có thể đáp ứng hiệu quả nhu cầu tin, việc đầu tiên và quan trọng nhất là phải thấu hiểu đối tượng phục vụ. Luận văn đã áp dụng một cách tiếp cận khoa học và hệ thống để phân tích đặc điểm của người dùng tin tại Thư viện tỉnh Thái Nguyên. Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là sự kết hợp giữa phân tích tài liệu, điều tra bằng phiếu hỏi, phỏng vấn trực tiếp và tổng hợp số liệu thống kê lưu trữ. Cách tiếp cận đa phương pháp này giúp thu thập được dữ liệu phong phú và có độ tin cậy cao, khắc họa một bức tranh toàn diện về chân dung người dùng. Các yếu tố được đưa vào phân tích bao gồm: đặc điểm nghề nghiệp, trình độ học vấn, độ tuổi, giới tính và đời sống vật chất, tinh thần. Kết quả phân tích không chỉ cho thấy sự đa dạng của các nhóm người dùng mà còn chỉ ra những đặc trưng riêng biệt trong thói quen sử dụng thông tin của từng nhóm. Đây là cơ sở dữ liệu nền tảng, giúp thư viện định hướng chiến lược phát triển nguồn lực thông tin và thiết kế các dịch vụ thông tin thư viện phù hợp, sát với thực tế.

3.1. Khảo sát đặc điểm nghề nghiệp và trình độ học vấn NDT

Kết quả khảo sát cho thấy, nhóm người dùng tin là học sinh, sinh viên chiếm tỷ lệ áp đảo với 68% tổng số thẻ cấp trong giai đoạn 2005-2007. Nhóm cán bộ quản lý, nghiên cứu, giảng dạy chiếm 27,7%. Điều này phản ánh vai trò của Thái Nguyên là một trung tâm giáo dục lớn. Về trình độ học vấn, số người dùng có trình độ Đại học và trên đại học chiếm tỷ lệ rất cao (78,2%), cho thấy thư viện là điểm đến của giới trí thức. Những đặc điểm nghề nghiệp và học vấn này cho thấy một nhu cầu tin mang tính học thuật và chuyên sâu cao, đòi hỏi thư viện phải có nguồn tài liệu phong phú về các lĩnh vực khoa học, công nghệ và giáo dục.

3.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của độ tuổi và giới tính đến nhu cầu

Phân tích đặc điểm độ tuổi chỉ ra rằng nhóm từ 15-25 tuổi chiếm tỷ lệ lớn nhất (52%), đây là lứa tuổi năng động, sáng tạo và có nhu cầu tìm hiểu kiến thức ngành nghề, công nghệ mới và các vấn đề xã hội. Các lứa tuổi khác nhau có nhu cầu và thị hiếu đọc khác biệt rõ rệt. Về giới tính, nam giới (55,6%) và nữ giới (44,4%) có sự chênh lệch không lớn, nhưng có xu hướng quan tâm đến các lĩnh vực khác nhau. Nữ giới thường quan tâm đến văn học, tâm lý, chăm sóc gia đình, trong khi nam giới lại ưu tiên các lĩnh vực chính trị, thể thao và công nghệ. Việc nắm bắt những khác biệt này giúp thư viện cá nhân hóa các hoạt động giới thiệu sách và phát triển vốn tài liệu cân bằng hơn.

3.3. Phân nhóm người dùng tin Khoa học quản lý và đại chúng

Dựa trên các đặc điểm đã phân tích, luận văn tiến hành phân loại người dùng tin thành ba nhóm chính. Nhóm 1: Người dùng tin nghiên cứu khoa học (cán bộ, giáo viên, sinh viên), có nhu cầu thông tin chuyên sâu, tổng hợp và đòi hỏi tính chính xác, kịp thời. Nhóm 2: Người dùng tin phục vụ công tác quản lý (cán bộ lãnh đạo), cần thông tin vừa rộng vừa sâu, mang tính liên ngành và đã được xử lý, chọn lọc. Nhóm 3: Người dùng tin đại chúng (nhân dân lao động), có nhu cầu thông tin đa dạng, phục vụ đời sống, sản xuất, giải trí và yêu cầu hình thức dễ tiếp nhận. Việc phân nhóm này là tiền đề quan trọng để thư viện có thể triển khai các phương thức phục vụ chuyên biệt, đáp ứng chính xác nhu cầu tin của từng đối tượng.

IV. Đánh giá khả năng đáp ứng nhu cầu tin của thư viện hiện nay

Trên cơ sở phân tích nhu cầu tin của người dùng, luận văn tiến hành đánh giá sâu sắc về khả năng đáp ứng nhu cầu tin của Thư viện tỉnh Thái Nguyên. Việc đánh giá này được thực hiện một cách khách quan dựa trên việc xem xét các yếu tố nội tại của thư viện, bao gồm nguồn lực thông tin, các sản phẩm thông tindịch vụ thông tin thư viện đang được triển khai. Kết quả cho thấy một bức tranh đa chiều với cả những điểm mạnh và nhiều hạn chế cần khắc phục. Mặc dù thư viện đã có những nỗ lực đáng ghi nhận trong việc duy trì và phát triển vốn tài liệu, nhưng nhìn chung vẫn chưa theo kịp tốc độ gia tăng và sự đa dạng hóa của nhu cầu. Các sản phẩm và dịch vụ thông tin còn mang nặng tính truyền thống, chưa phát huy hết tiềm năng của công nghệ thông tin để tạo ra các giá trị gia tăng. Mức độ hài lòng của người dùng tin tuy có nhưng chưa cao, phản ánh khoảng cách giữa năng lực phục vụ hiện tại và kỳ vọng của xã hội. Đánh giá này là cơ sở thực tiễn vững chắc để xây dựng các giải pháp cải tiến trong chương tiếp theo.

4.1. Thực trạng nguồn lực thông tin Sách báo và CSDL

Tính đến năm 2008, Thư viện tỉnh Thái Nguyên có khoảng 130.000 đơn vị tài liệu, chủ yếu là sách tiếng Việt. Kho sách ngoại văn (6.500 bản) phần lớn là sách tiếng Nga cũ, ít được sử dụng. Việc bổ sung hàng năm rất hạn chế do kinh phí thấp, chỉ khoảng 2.000-2.400 bản/năm. Mặc dù đã xây dựng được CSDL sách với 40.000 biểu ghi, nhưng việc hồi cố và cập nhật chưa hoàn thiện, mới đạt gần 70%. Nguồn lực thông tin tuy có số lượng tương đối nhưng chưa phong phú về loại hình và chưa sâu về các lĩnh vực khoa học kỹ thuật, kinh tế mũi nhọn của tỉnh, dẫn đến khó khăn trong việc đáp ứng các yêu cầu thông tin chuyên ngành.

4.2. Các sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện đang cung cấp

Các dịch vụ thông tin thư viện chủ yếu vẫn là các dịch vụ truyền thống như phục vụ đọc tại chỗ (kho đóng và mở), phục vụ mượn về nhà và phục vụ lưu động. Các hình thức tuyên truyền, giới thiệu sách được tổ chức nhưng chưa đa dạng và thường xuyên. Thư viện đã bắt đầu cung cấp các sản phẩm thông tin như thư mục chuyên đề, lược thuật báo trích, nhưng số lượng còn ít và chưa được quảng bá rộng rãi. Các dịch vụ hiện đại dựa trên nền tảng công nghệ thông tin như tra cứu OPAC, truy cập tài liệu số, hay cung cấp thông tin chọn lọc theo yêu cầu vẫn còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được kỳ vọng của nhóm người dùng tin có trình độ cao.

V. Top 5 giải pháp tối ưu hóa hoạt động thông tin thư viện

Từ những phân tích về thực trạng nhu cầu tinkhả năng đáp ứng nhu cầu tin, luận văn đã đề xuất một hệ thống các giải pháp đồng bộ và khả thi nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của Thư viện tỉnh Thái Nguyên. Các giải pháp này không chỉ tập trung vào việc khắc phục những yếu kém hiện tại mà còn hướng đến sự phát triển bền vững trong tương lai, đưa thư viện thực sự trở thành một trung tâm thông tin hiện đại, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Cốt lõi của các giải pháp là cách tiếp cận toàn diện, tác động vào cả năm yếu tố then chốt: nguồn lực thông tin, sản phẩm và dịch vụ, con người (cán bộ và người dùng tin), và công nghệ. Việc triển khai thành công các giải pháp này sẽ tạo ra một bước chuyển mình mạnh mẽ, nâng cao vị thế và vai trò của thư viện trong đời sống kinh tế - xã hội của tỉnh, giúp thỏa mãn tốt hơn nhu cầu tri thức ngày càng cao của mọi tầng lớp nhân dân.

5.1. Phát triển nguồn lực thông tin đa dạng và chuyên sâu

Giải pháp hàng đầu là phải tập trung phát triển nguồn lực thông tin. Thư viện cần xây dựng chính sách bổ sung có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên các lĩnh vực kinh tế mũi nhọn của tỉnh như công nghệ khai thác khoáng sản, nông nghiệp (chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi), và du lịch. Cần tăng cường bổ sung sách khoa học kỹ thuật, các công trình nghiên cứu có giá trị. Đồng thời, phải xây dựng kho sách địa chí phong phú để quảng bá tiềm năng của địa phương. Bên cạnh việc mua, cần đa dạng hóa nguồn bổ sung thông qua trao đổi, nhận biếu tặng và các dự án hợp tác để làm giàu vốn tài liệu.

5.2. Đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ thông tin hiện đại

Thư viện cần vượt ra khỏi các dịch vụ truyền thống. Giải pháp là phát triển và đa dạng hóa các sản phẩm và dịch vụ thông tin có giá trị gia tăng cao. Cụ thể là xây dựng các bộ sưu tập số, cung cấp dịch vụ thông tin chọn lọc theo yêu cầu (SDI), biên soạn các bản tin tổng quan, thư mục chuyên đề. Cần đẩy mạnh các dịch vụ trực tuyến qua website của thư viện như gia hạn tài liệu, đặt trước tài liệu, và tư vấn thông tin qua mạng. Việc này không chỉ nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu tin mà còn thu hút thêm nhiều nhóm người dùng tin mới, đặc biệt là giới trẻ.

5.3. Nâng cao trình độ cán bộ và đẩy mạnh đào tạo người dùng tin

Con người là yếu tố quyết định. Thư viện phải có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng công nghệ cho đội ngũ cán bộ. Đồng thời, cần triển khai các chương trình "đào tạo người dùng tin" một cách bài bản. Tổ chức các lớp hướng dẫn kỹ năng tra cứu thông tin, sử dụng cơ sở dữ liệu, đánh giá nguồn tin. Việc này không chỉ giúp người dùng khai thác hiệu quả hơn các nguồn lực của thư viện mà còn hình thành văn hóa đọc và nghiên cứu trong cộng đồng, tạo ra một môi trường tương tác tích cực giữa thư viện và người dùng.

VI. Hướng đi tương lai Hiện đại hóa Thư viện tỉnh Thái Nguyên

Nghiên cứu về nhu cầu tinkhả năng đáp ứng nhu cầu tin không chỉ giải quyết các vấn đề trước mắt mà còn mở ra một tầm nhìn chiến lược cho tương lai của Thư viện tỉnh Thái Nguyên. Hướng đi tất yếu và cấp thiết là phải đẩy mạnh quá trình hiện đại hóa thư viện, chuyển đổi từ mô hình truyền thống sang mô hình thư viện số, thư viện thông minh. Quá trình này đòi hỏi sự đầu tư đồng bộ về công nghệ, hạ tầng và con người. Việc xây dựng một thư viện điện tử tích hợp, có khả năng liên thông với các thư viện khác trong và ngoài nước sẽ phá vỡ mọi giới hạn về không gian và thời gian, mang nguồn tri thức vô tận đến với mọi người dùng tin. Song song đó, việc tăng cường xã hội hóa, huy động các nguồn lực từ cộng đồng để cùng chung tay xây dựng và phát triển sự nghiệp thư viện sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp, đảm bảo sự phát triển bền vững. Tương lai của thư viện nằm ở khả năng thích ứng, đổi mới và sáng tạo không ngừng để phục vụ xã hội một cách tốt nhất.

6.1. Xây dựng thư viện điện tử và ứng dụng công nghệ thông tin

Trọng tâm của quá trình hiện đại hóa thư viện là xây dựng thư viện điện tử. Điều này bao gồm việc số hóa các tài liệu quý hiếm, đặc biệt là tài liệu địa chí; xây dựng các bộ sưu tập số chuyên đề; mua quyền truy cập các cơ sở dữ liệu khoa học trong và ngoài nước. Thư viện cần đầu tư nâng cấp hạ tầng mạng, trang bị thêm máy tính và các thiết bị ngoại vi hiện đại. Việc ứng dụng các phần mềm quản trị thư viện tích hợp thế hệ mới với các chuẩn quốc tế như MARC 21, Z39.50 là bắt buộc để có thể tra cứu và chia sẻ tài nguyên thông tin một cách hiệu quả, hướng tới mục tiêu trở thành một nút thông tin quan trọng trong mạng lưới thư viện quốc gia.

6.2. Tăng cường xã hội hóa công tác thư viện tại cơ sở

Để phát triển bền vững, thư viện không thể chỉ dựa vào ngân sách nhà nước. Cần vận dụng và phát huy mọi nguồn lực trong xã hội để xây dựng và phát triển mạng lưới thư viện công cộng toàn tỉnh. Thư viện tỉnh cần đóng vai trò nòng cốt trong việc kêu gọi các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân cùng tham gia đóng góp xây dựng vốn sách, trang thiết bị. Thực hiện phương châm "nhà nước và nhân dân cùng làm", phát triển mạnh mẽ các tủ sách xã, phường, thôn, bản. Việc xã hội hóa không chỉ giải quyết bài toán kinh phí mà còn nâng cao ý thức, trách nhiệm của cộng đồng đối với sự nghiệp phát triển văn hóa đọc, đảm bảo mọi người dân đều được hưởng lợi từ các dịch vụ thông tin thư viện.

27/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Thư viện tỉnh Thái Nguyên trước yêu cầu đổi mới đất nước 12 Chương 2. Nghiên cứu nhu cầu tin của người dùng tin tại Thư viện tỉnh Thái Nguyên. Khả năng đáp ứng nhu cầu tỉn và các giải pháp tăng cường hoạt động thông tin của Thư viện tỉnh Thái Nguyên.

13 CHUONGI THU VIEN TINH THAI NGUYEN TRƯỚC YÊU CÀU ĐÓI MỚI ĐÁT NƯỚC 1.1 Tỉnh Thái Nguyên trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế — xã hội 1.1: Nguồn lực tự nhiên, kinh tế và văn hoá- xã hội của tỉnh Thái Nguyên “Thái Nguyên là một tỉnh miền núi và trung du, nằm ở khu vực Đông- Bắc Việt Nam với tổng diện tích đất tự nhiên 3. Phía bắc giáp tỉnh Bắc Cạn; phía Tây và Tây Nam giáp các tỉnh Tuyên Quang, Vĩnh Phúc; phía Nam giáp Hà Nội; phía Đông và Đông Bắc giáp các tỉnh Bắc Giang và Lạng Sơn Thành phố Thái Nguyên cách trung tâm thủ đô Hà nội 80km; cách bờ biển Quảng Ninh 200km và cách biên giới Việt- Trung tại tỉnh Cao Bằng 300km. Tinh Thai Nguyên nằm trong khu vực Đông Bắc, thuộc vùng trung du miền núi Bắc Bộ, hội tụ phần phía Nam của cánh cung các dãy núi Đông- Bắc nên chịu ảnh hưởng khí hậu lục địa Châu Á, nhất là về mùa đông, đồng thời còn chịu ảnh hưởng của khí hậu gió mùa từ biển Đông và Vịnh Bắc Bộ thổi vào Diện tích tự nhiên của tỉnh không lớn nhưng cấu trúc dia ting khá phức tap, da dạng và có nhiều nguồn gốc khác nhau. Điều đó qui định chất lượng đất và sự phong phú của nhiều loại khoáng sản, bao gồm cả nhiên liệu, kim loại quý.

Thái Nguyên có tổng dân số 1.525 người, trong đó Nam chiếm 49,89 %dân số; Nữ chiếm 50,11% dân số; Số người trong độ tuổi lao động gần 65% dân số toàn tỉnh. 14 “Thái Nguyên là tỉnh có nhiều dân tộc sinh sống, trong đó có 8 dân tộc có từ 2.500 người trở lên và ổn định lâu đời là: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Sán Dìu, Cao Lan, Mông, Hoa. Các dân tộc sống xen kẽ và rải rác khắp địa bàn tỉnh; đoàn kết gắn bó với nhau, hoà nhập thành một công đồng thống nhất, với nền văn hoá vừa phong phú, đa dạng của mỗi dân tộc, vừa mang đặc điểm chung trong một tiến trình phát triển lịch sử, văn hoá, ý thức, tâm lý. chính vì vậy,Thái Nguyên là một vùng đất văn hoá của nhiều dân tộc, vừa là điểm hội tụ bản sắc văn hoá các dân tộc thiểu số cư trú trong vùng, vừa là nơi giao lưu, hội nhập với nền văn hoá của công đồng dân tộc miền xuôi, tạo nên một nền văn hoá phong phú, đa dạng và đậm đà bản sắc dân tộc V văn hoá tỉnh thần : Thái Nguyên có kho tàng văn hoá phi vật thể đặc sắc phong phú, đa dạng gồm nhiều thể loại.

Mỗi dân tộc đều có những truyền thuyết về địa danh như sự tích nàng Công, chàng Cốc; đền Thượng, núi Đuồm.dân ca của các dân tộc có các làn điệu đặc sắc như hát sli, lượn, hát then. tất cả đã tạo nên một nét đẹp truyền thống, một phong cách riêng của từng dân tộc, nhưng lại hoà đồng trong nền văn hoá chung của cả dân tộc Việt Nam. có nhiều ngày hội truyền thống mang tính bản địa rõ rệt như hội Lồng Téng, lễ hội đền Đuỗm, đình Phương Độ, núi Văn, núi Võ. Mỗi dân tộc đều có những phong tục tập quán riêng thể hiện trong việc cưới, việc tang, thờ cúng.

ngày nay, đồng bào các dân tộc vẫn bảo tồn và phát huy được những thuần phong mỹ tục, xoá bỏ hủ tục lạc hậu, xây dựng cuộc sống mới ; lành mạnh về văn hoá tỉnh thần. Ư Š văn hoá phi vật thẻ. Thái Nguyên có nhiều di tích, danh lam thắng cảnh và các giá trị vật thể khác tạo tiềm năng du lịch khá lớn, các di tích lịch sử nỗi tiếng như ATK Định Hoá, đình Phương Độ, Thần Sa, đền thờ Đội Cần, đền Đuổm.các di tích lịch sử ở Thái Nguyên là niềm tự hào, tai sản vô giá 15 phản ánh truyền thống kiên cường, dựng nước và giữ nước của cả dân tộc Tính đến nay, Thái Nguyên đã có 780 điểm di tích lịch sử, trong đó 23 điểm được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia Về giáo dục và đào tạo: Thái Nguyên đã và đang trở thành một trong những trung tâm giáo dục- đảo tạo lớn của cả nước. Hiện nay, trên toàn tỉnh có 20 trường Đại học, Cao đẳng, Trung học và dạy nghé, đào tạo khá đa dạng về ngành nghề, lưu lượng gần 3 vạn sinh viên Đại học và Cao đẳng, gần 2 vạn học sinh Trung học và Công nhân kỳ thuật.

Lực lượng gần 2000 giáo viên, học sinh đã và đang trở thành nguồn nhân lực khoa học, công nghệ lớn của tỉnh và của nhiều địa phương khác trong các tỉnh miễn núi phía Bắc. Về văn hoá ẩm thực: Thái Nguyên có sản phẩm chè nổi tiếng, cơm lam, bánh trứng kiến của ngươi Sán Diu. Trong quá trình đổi mới, Thái Nguyên có điều kiện vừa bảo tồn và phát huy truyền thống văn hoá của các vùng, miễn trong nước và thế giới, góp phần xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Tất cả những nét đó đã tác động mạnh mẽ, và ảnh hưởng sâu sắc đến đặc điểm của người dùng tin và nhu cầu của người dùng tin tại Thái Nguyên 1.2 Định hướng phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh Thái Nguyên đến năm 2010 Sau hơn mười năm đổi mới, ém lực về mọi mặt của tỉnh đã lớn mạnh hơn nhiều.

Cơ sở vật chất kỳ thuật đã được xây dựng và phát huy. Kết cấu hạ tằng tương đối đồng bộ, bao gồm mạng lưới giao thông đô thị và nông thôn, điện lưới quốc gia, hệ thống thuỷ lợi, nước sinh hoạt, thông tin liên lạc, trạm phát thanh truyền hình. Các công trình phúc lợi công cộng đã và đang phát huy tác dụng, phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh. 16 Đời sống các dân tộc trong tỉnh được cải thiện rõ rệt.

Từ chỗ thiếu lương thực, nay nhu cầu lương thực đã được đảm bảo với mức bình quân đầu người gần 400 kg. Cơ chế tập trung quan liêu bao cấp từng bước được xoá bỏ, chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành. phần kinh tế. Bộ mặt nông thôn, thành thị, các vùng, các khu vực trong tỉnh đã có nhiều chuyên biến tích cực: Chính trị- xã hội ôn định, khối đại đoàn kết toàn dân ngày càng được củng cố vững chắc.

Trong công cuộc đổi mới, Đảng và nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách để phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là những điều kiện mới để các địa phương, trong đó có Thái Nguyên thực. hiện tốt nhiệm vụ chính trị của mình. Mục tiêu và chỉ tiêu chủ yếu năm 2006 ~ 2010 “ Huy dong moi nguén luc, tiếp tục đầy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tạo sự phát triển nhanh và bằn vững, phắn đấu đến năm 2010 đưa tỉnh thoát khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao một bước rõ rệt đời sống vật chất và tình thần của nhân dân, tạo tiền đề quan trọng đề Thái Nguyên trở thành tỉnh công nghiệp trước năm 2010” [5, tr.144] Cac chỉ tiêu phát triển kinh tế đến năm 2010: - Cải biến căn bản tình trạng kinh tế- xã hội kém phát triển của tỉnh, GDP năm 2010 tăng gấp đôi năm 2000, ~ Nguồn lực con người, năng lực khoa học công nghệ, kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội, tiềm lực kinh tế và quốc phòng được tăng cường.

~ Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh vừa đáp ứng được nhu cầu chỉ thường xuyên, vừa có phân chỉ cho đầu tư phát triển. - Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản. 17 ~Cơ cầu kinh tế và cơ cấu lao động chuyển dịch mạnh theo hướng tăng tỷ trọng trong công nghiệp- xây dựng và dịch vụ trong GDP, đồng thời giảm tỷ trọng nông nghiệp, tỷ lệ lao động nông nghiệp đến năm 2010 ở mức dưới 55% - Đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân các dân tộc trong tỉnh được cải thiện rõ rệt, cơ bản không còn hộ nghèo. Tư tưởng chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên về phát triển văn hoá thông tin, thể dục thể thao đã được xác định trong Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI: “ Nâng cao chát lượng hoạt động văn hoá và đời sống văn hoá của nhân dân các dân tộc trong tỉnh.

Đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động” toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”. tiếp tục thực hiện chương trình đưa các hoạt động văn hoá, thông tin về cơ sở vùng. cao, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc.các xã, phường đều phải dành quữ đất để làm nơi hoạt động và tăng cường cơ sở vật chất cho hoạt động văn hoá, thể thao của nhân dân.2 Yêu cầu nhiệm vụ của Thư viện tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn mới đất nước 1.1 Vài nét về Thư viện tỉnh Thái Nguyên Nam 1954, sau chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử, hoà bình đã được lập lại trên miền Bắc nước ta. Sau hai năm khôi phục và hàn gắn vết thương chiến tranh do thực dân Pháp, can thiệp Mỹ và bọn tay sai để lại trên miền Bắc nước ta, đời sống vật chất và tỉnh thần của nhân dân lao động đã được cải thiện, cơ cấu xã hội và nền kinh tế quốc dân đã có những bước chuyển biến có lợi cho công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc- làm cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Tháng 8 năm 1956, Khu tự trị Việt Bắc được thành lập gồm 6 tỉnh: Thái Nguyên, Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang và Hà Giang. Từ 18 đây, một đơn vị hành chính mới xuất hiện cùng với việc thành lập các ngành kinh tế và sự nghiệp- trong đó có ngành Văn hoá, mà Thư viện tỉnh Thái 'Nguyên là một đơn vị trực thuộc Năm 1965, Thái Nguyên và Bắc Cạn sát nhập thành tỉnh Bắc Thái, thư viện cũng được đồi tên thành Thư viện tinh Bắc Thái. Chiến thắng mùa Xuân năm 1975 đưa cách mạng nước ta chuyển sang giai đoạn mới: cả nước độc lập, thống nhất và tiến lên chủ nghĩa xã hội. bối cảnh đó, khu tự trị Việt Bắc đã làm tròn nhiệm vụ lịch sử vẻ vang của mình, đầu năm 1976, khu tự trị Việt Bắc chính thức giải thẻ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ