Chương 1: Từ khoá với Trung tâm Thông tìn -Tư liệu -Thư viện Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Chương 2: Khảo sát thực trạng định từ khoá tại Trung tâm Thông tìm ~ Tự liệu ~ Thư viện Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng định từ khoá tại Trung tâm Thông tin -Tư liệu -Thư viện Học viện Báo chí và Tuyên truyền ll CHUONG I TU KHOA VOI TRUNG TAM THONG TIN-TU LIEU- THU VIEN HQC VIEN BAO CHi VA TUYEN TRUYEN 1.1 VÀI NÉT VÈ TVHVBCTT 1.1 Quá trình hình thành và phát triển của TVHVBCTT Học viện Báo chí và Tuyên truyền tiền thân là trường Tuyên giáo Trung ương — là trung tâm quốc gia đào tạo, bồi dưỡng ở bậc đại học và sau đại học những cán bộ chủ chốt trên lĩnh vực báo chí, xuất bản, xã hội học và tuyên truyền. Đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý, giảng viên các chuyên ngành lý luận Mác ~ Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh [3] Học viện Báo chí và Tuyên truyền được thành lập theo Nghị quyết số 36 ~ NQ/TW ra ngày 16/01/1962 của Ban Bí thư Trung ương Đảng.
Đã qua nhiều lần đổi tên trường, đến năm 2005 theo Nghị quyết số 52/ NQ-TW ngày 30/07/2005 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và nghiên cứu khoa học. và Quyết định số 149/QÐ - TW ngày 02/08/2005 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (nay là Học viện Chính trị- Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh), trong đó Phân viện Báo chí và Tuyên truyền được chuyển thành Học viện Báo chí và Tuyên truyền Cùng với sự hình thành và phát triển của Học viện Báo chí và Tuyên truyền, TVHVBCTT cũng được ra đời từ năm 1962. Có thể chia quá trình hình thành và phát triển của Trung tâm làm 3 giai đoạn sau: Giai đoạn I(Từ 1962-1989): là giai đoạn sát nhập từ các thư viện nhỏ của 3 trường (Trường Nguyễn Ái Quốc phân hiệu II, trường Tuyên huấn 12 Trung Ương và trường Đại học Nhân dân) với số vốn tài liệu ban đầu chỉ có sần 9000 bản sách với 2 cán bộ làm công tác thư viện. Năm 1983, sau khi sát nhập với trường Nguyễn Ái Quốc V, số lượng sách tăng lên 226.600 bản sách tiếng Việt và 3000 bản sách ngoại văn (Tiếng Nga, Anh, Pháp), số cán bộ thư viện tăng lên 19 người.
Giai đoạn này Thư viện là một bộ phận nằm trong Phòng Tư liệu - Thư viện. Giai đoạn 2 (Tir nam 1990 — 2006) là thời kỳ Thư viện hoạt động độc lập, trở thành Phòng Thư viện trực thuộc Ban Giám đốc Phân viện Báo chí và Tuyên truyền. Trải qua nhiều lần di chuyền địa điểm làm việc, năm 2004 Thư viện được xây mới một toà nhà 3 tầng với tổng diện tích sử dụng hơn 3000 mẽ. Phòng làm việc, bộ phận phục vụ, kho tàng sạch sẽ, sáng sa, thoáng mát, trang thiết bị tương đối hiện đại.
Giai đoạn 3: Ngày 1⁄4/2006 Thư viện có quyết định trở thành Trung tâm Thông tin-Tư liệu-Thư viện (Quyết định số 7§82/QĐ-HVCTQG ngày 04/5/2006), đánh dấu một bước chuyển biến mới. Số cán bộ hiện có của Trung tâm là 17 người (1 tiến sĩ, 5 thạc sĩ, 10 cử nhân trong đó có 4 cán bộ đang học cao học, 1 cán bộ trung cấp). Trung tâm có 2 phòng trực thuộc là Phòng Thư viện và Phòng Thông tin — Website 1.2 Chức năng và nhiệm vụ của TVHVBCTT TVHVBCTT là một trong những thư viện chuyên ngành nhưng cũng nằm trong hệ thống thư viện các trường đại học, căn cứ vào quyết định 688/QÐ ngày 14/7/1986 của Bộ trưởng Bộ Đại học và trung học chuyên nghiệp, quy định về tổ chức và hoạt động của thư viện trường đại học. TVHVBCTT có chức năng tổ chức, xây dựng và quản lý vốn tư liệu về khoa học xã hội và các khoa học thuộc chuyên ngành đào tạo của nhà trường, đáp 13 ứng nhu cầu nghiên cứu, giảng dạy và học tập của cán bộ, giảng viên, học viên và sinh viên trong HVBCTT.
'Từ chức năng trên TVHVBCTT có những nhiệm vụ sau: 1. Nghiên cứu, đề xuất các phương hướng, chủ trương, kế hoạch phát triển vốn tư liệu khoa học xã hội, khoa học chuyên ngành phủ hợp với nhiệm vụ đảo tạo và nghiên cứu khoa học của HVBCTT, đồng thời chịu trách nhiệm bảo quản vốn tư liệu đó 2. Tổ chức cho cán bộ, giảng viên, học viên và sinh viên khai thác và sử dụng thuận lợi và có hiệu quả các tư liệu do thư viện quản lý. ~ Xử lý, sắp xếp tải liệu theo chuyên ngành đảo tạo của nhà trường ~ Xây dựng các phương tiện tra cứu và hướng dẫn sử dung dé ban doc tìm được tài liệu nhanh chóng và phủ hợp.
~ Thông báo kịp thời những tài liệu mới được bổ sung như: sách, tạp chí, luận văn, luận án - Tổ chức các loại phòng phục vụ bạn đọc: Phòng đọc cho cán bộ, giảng viên, phòng đọc mở cho sinh viên, phòng mượn tổng hợp, phòng mượn sách giáo trình, các tài liệu kinh điển. ~ Tổ chức kiểm kê định kỳ các kho tài liệu theo quy định. - Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của Trung tâm. Duy trì và phát triển các mối quan hệ nhằm trao đổi nghiệp vụ, chia sẻ nguồn lực thông tin đối với các cơ quan, đơn vị trong và ngoài Học viện Báo chí và Tuyên truyền 14 4.
Phối hợp với các khoa, phòng trong việc sử dụng, khai thác nguồn tài liệu nội sinh; xây dựng, bổ sung tủ sách cho từng khoa, phòng mang tính chất chuyên sâu về lĩnh vực mà khoa, phòng đó đảm nhiệm theo kinh phí được duyệt hàng năm. Chủ động đề xuất việc quy hoạch đội ngũ cán bộ của Trung tâm, có kế hoạch thường xuyên tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học,.cho cán bộ thư viện để không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả phục vụ. Thu nhận lưu chiều những xuất bản phẩm do HVBCTT xuất bản, các luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ, khoá luận tốt nghiệp bảo vệ tại HVBCTT hoặc người viết là cán bộ, sinh viên HVBCTT, kỷ yếu hội thảo, kỷ yếu khoa học, những báo cáo tổng kết của các đề tài nghiên cứu các cấp đã được nghiệm thu tai HVBCTT.Quản lý có hiệu quả nguồn kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị của Trung tâm. Tóm lại, để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ nêu trên, TVHVBCTT cần phải có những biện pháp tích cực nhằm đổi mới hoạt động của mình một cách toàn diện, lấy việc đáp ứng nhu cầu tin của người dùng tin làm mục tiêu và động lực.3 Vai trò của ngôn ngữ từ khoá trong hoạt động tra cứu tại TVHVBCTT 'Ngôn ngữ từ khoá là một tập hợp từ đã được kiểm soát, được chọn ra từ ngôn ngữ tự nhiên và được sử dụng để mô tả nội dung chính của tài liệu [14,tr.
Ngôn ngữ từ khoá là ngôn ngữ tìm tin hậu kết hợp trong đó các khái niệm được quy về các yếu tổ từ vựng đơn giản. Khi tổ hợp các yếu tố từ vựng. đó với nhau ta có thể xây dựng các khái niệm khác nhau. Với một số tương 15 đối nhỏ các đơn vị từ vựng của ngôn ngữ này ta có thể xây dựng được các mệnh đề mà trên thực tế có thể diễn tả được bắt kỳ khái niệm nào.
«_ Các loại ngôn ngữ từ khoá Các ngôn ngữ từ khoá được phân loại theo mức độ hình thức hoá thuật ngữ như sau: ~ Ngôn ngữ từ khoá tự do: là ngôn ngữ từ khoá được xây dựng bằng cách lựa chọn tự do theo quan điểm của chuyên gia định từ khoá dé mô tả các khái niệm mà tài liệu đề cập đến. Các khái niệm này được mô tả bằng các từ (hoặc cụm từ) trong các tài liệu đó hoặc do chính các chuyên gia đặt ra, không cần thâm tra theo một từ điển sẵn có nào. - Ngôn ngữ từ khoá kiểm soát: gồm 2 loại chính + Từ điển từ khoá quy ước: là tập hợp của các tên khái niệm quy ước dùng. để mô tả đơn nghĩa nội dung tài liệu và tìm tin trong hệ thống thông tin tư liệu.
Chỉ những tên khái niệm này mới được sử dụng để đưa vào mẫu tìm. + Thesaurus tìm tin (gọi tắt là thesaurus): là một từ điển tên khái niệm có cấu trúc ngữ nghĩa xác định dùng để mô tả đơn nghĩa nội dung tài liệu và tìm tin trong hệ thống thông tin tư liệu. Cấu trúc ngữ nghĩa của thesaurus bao gồm các quan hệ : tương đương, phân cấp và liên đới, hỗ trợ cho việc định từ khoá và tìm tin [9,tr4] TVHVBCTT ngay tir khi bắt đầu định từ khoá đã sử dụng ngôn ngữ từ khoá kiểm soát với công cụ hỗ trợ là Bộ từ khoá của TVQGVN. Công cụ này.
đã tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ thư viện trong việc kiểm soát từ vựng, lựa chọn thuật ngữ để mô tả chính xác nội dung tài liệu một cách đúng đắn và khoa học. 16 Xét về độ tiện lợi cho chuyên gia định từ khoá, thì sử dụng ngôn ngữ tự do là tiện lợi nhất vì không cần phải đối chiếu, thay thế các từ khoá tự do bằng các từ khoá kiểm soát. Nhưng, xét theo quan điểm người tìm tin thì ngôn ngữ kiểm soát càng chặt chẽ thì việc tìm tin càng dễ dàng, chính xác. quan hệ ngữ nghĩa của thesaurus người dùng tin có thể xây dựng yêu cầu tìm tin một cách chắc chắn, nhận kết quả tìm chính xác, hoặc mở rộng phạm vi tìm đến những khái niệm rộng hơn, hẹp hơn nhằm xem xét đối tượng tìm [9.r6] Ngôn ngữ từ khoá ngày nay được sử dụng rộng rãi trong việc tạo lập các CSDL thư mục của các cơ quan thông tin — thư viện trong nước và trên thế giới.
CSDL thư mục là tập hợp các dữ liệu về các tài liệu được tổ chức dưới hình thức thuận tiện cho tìm tin tự động hoá. Hiện nay trong các CSDL thư mục từ khoá trở thành một dấu hiệu tìm tin rất quan trọng. Từ khoá được dùng để phản ánh nội dung của tài liệu hay nội dung của yêu cầu tin đưa vào CSDL, được xử lý và dùng như là một dấu hiệu tìm tin theo nội dung. Để thực hiện việc tim tin bằng từ khoá, ứng với mỗi tài liệu văn bản được lưu trữ trong hệ thống phải có một tập hợp từ khoá, thể hiện đầy đủ những đặc trưng về nội dung chính được hàm chứa trong tài liệu.
Tập hợp từ khoá này sẽ thay thé cho tài liệu trong CSDL.