Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VA TONG QUAN VE THU VIEN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI 1. Cơ sở lý luận về hoạt động thông tin - thư viện 1. Khái niệm hoạt động thông tin - thư viện Trong thời đại ngày nay, công tác thông tin nói chung và TT - TV nói riêng có một tầm quan trọng đặc biệt và ảnh hưởng sâu sắc tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Ngay từ xưa, thư viện đã là một phần của xã hội, nó đem thông tin và tri thức đến với mọi người, là cầu nối giữa thông tin và người sử dụng.
Theo Từ điển Tiếng Việt “Thư viện là nơi tàng trữ, giữ gìn sách báo tài liệu và tổ chức cho bạn đọc sử dụng” “Hoạt động thư viện” là quá trình thu thập, xử lý, bảo quản tài liệu và phục vụ bạn đọc thông qua các tài liệu đó, đáp ứng nhu cầu học tập, giải trí của mọi người dân” [17] Trước yêu cầu phát triển của xã hội, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học và công. nghệ diễn ra từ nửa đầu của thế kỷ XX, trước nhu cầu thông tin của các nhóm NDT đang ngày một gia tăng, trước những trở ngại trong việc tiếp cận nguồn vốn tài liệu do hiện tượng bùng nỗ thông tin gây ra, bên cạnh các thư viện nhiều cơ quan thông tin chuyên làm dịch vụ cung ứng thông tin đã ra đời. Hoạt động thông tin cũng bắt đầu hình thành từ đó. “Hoạt động thông tin” là một quá trình sáng tạo, thu thập, xử lý, lưu trữ, tìm và phỏ biến thông tin, nhằm đáp ứng nhu cầu tin của người dùng tin (NDT).
Mục đích của hoạt động thông. tin là đáp ứng tối đa nhu cầu tin của người dùng tin (NDT) [17] Trong khi đối tượng của hoạt động thư viện là bạn đọc, là mọi thành viên trong xã hội thì đối tượng của hoạt động thông tin là NDT, là những người cần thông tin cho công việc của họ. NDT là yếu tố cơ bản của mọi hệ thống thông tin, là đối tượng phục vụ của hoạt động thông tin. NDT vừa là khách hàng của các dịch vụ thông tin đồng thời họ cung là những người sản sinh ra thông tin mới.
NDT giữ vai trò quan trọng trong các hệ thống thông tin. Họ như là yếu tố tương tác hai chiều với các đơn vị thông tin “Người dùng tin luôn là cơ sở để định hướng các hoạt động của đơn vị thông tin” [18] Có ba nhóm người dùng tin, tùy theo hoạt động mà họ tham gia đó là: 13 ~ Các nhà lãnh đạo, cán bộ quản lý, các cán bộ điều hành ~ Các nhà nghiên cứu, các giáo sư, các sinh viên ~ Các nhà doanh nghiệp, các cán bộ chuyên môn, các nhà kỹ thuật Hiện nay sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin (CNTT) và thông tin da tạo tiền đề cho việc chuyển từ một xã hội dựa trên sản xuất công nghiệp, chế tạo sang một xã hội dựa trên sản xuất và sử dụng thông tin và tri thức, ứng dụng mạnh mẽ CNTT và thông tin vào mọi lĩnh vực hoạt động của con người: Đó là xã hội thông tin. Trong bối cảnh đó hoạt động thư viện đang. diễn ra hai xu hướng, đó là: thông tin hóa hoạt động thư viện và tin học hóa hoạt động thư viện.
Trong xu hướng thông tin hóa hoạt động thư viện, các thư viện ngày nay đang tập trung nghiên cứu mở rộng các hoạt động théng tin trong hoạt động của thư viện truyền thống. Nhiều thư viện đại học có sự đổi mới về tổ chức và hoạt động để trở thành trung tâm TT - TV. Sự hợp tác của thư và cơ quan thông tin đã tạo điều kiện cho việ điều chỉnh các phương pháp và hợp lý hóa việc phân phối nhiệm vụ và sản phẩm cũng như mở ông chức năng. và công chúng phục vụ.
“Hoạt động thông tin” và “Hoạt động thư viện” là hai khái niệm đan xen nhau, với sự phát triển như vũ bão của CNTT cũng như sự tác động mạnh mẽ của nó tới hoạt động của thư viện đã xóa đi ranh giới giữa thư viện và các cơ quan thông tin. Rất khó để tách bạch rõ ràng giữa “hoạt động thông tin” và “hoạt động thư viện” bởi chúng có mối liên hệ khăng. khít, đan xen, gắn kết, tương tác với nhau và trở thành khái niệm “ hoạt độngTT - TV ” [6] Từ đó, có thể hiểu “ hoạt đông TT - TV” là quá trình thu thập, xử lý, lưu trữ, tô chức việc khai thác và sử dụng thông tin trong một cơ quan hay tô chức nhằm đáp ứng nhu cầu tin của NDT. Nếu tiếp cận từ góc độ thông tin tư liệu thì hoạt động TT - TV chính là khái niệm hoạt động thông tin khoa học, được trình bảy trong Nghị định 159/2004/ NĐ-CP của chính phủ ngày 31-8-2004 về hoạt động thông tin khoa học và công nghệ, đó là hoạt động nghiệp vụ về tìm kiếm, thu thập, xử lý, lưu trữ và phổ biến thông tin.
Những hoạt động này là sự cụ thể hóa về chức năng. và nhiệm vụ về chuyên môn nghiệp vụ được giao cho cơ quan thư viện hoặc trung tâm TT - TV 14 Điều này phù hợp với xu thé phát triển của kỷ nguyên thông tin hiện nay ở Việt Nam cũng, như thế giới. Là xu hướng tất yếu là làm thay đổi cơ bản vai trò của các thư viện trong quá trình phát triển xã hội theo hướng tăng cường chức năng phục vụ và phổ biến thông tin của các thư viện hiện đại. Đây cũng là lý do vì sao rất nhiều nước trên thế giới hiện nay đều coi sự nghiệp thư viện là một bộ phận cầu thành không thể tách rời của chính sách thông tin quốc gia 1.
Nội hàm của hoạt động thông tin - thư viện Hoạt động TT - TV bao gồm các hoạt động chính sau: ~ Phát triển và quản lý vốn tài liệu - Xử lý tài liệu và tạo lập các sản phẩm thông tin - Tổ chức các dịch vụ thông tin - Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động TT - TV ~ Quan hệ hợp tác và trao đổi thông tin * Phát triển và quản lý vốn tài liệu Là hoạt động bổ sung tài liệu nhằm tạo lập và duy trì vốn tài liệu của thư viện nhằm đáp ứng nhu cầu tin của NDT. Đề bồ sung tài liệu thư viện cần phải có chính sách bổ sung, xác định nguồn bồ sung và có kinh phí bổ sung. Vốn tải liệu cần được tổ chức bảo quản trong các kho tài liệu Mục tiêu của công tác phát triển vốn tài liệu là nhằm kiểm soát được các nguồn tư liệu trên cơ sở bảo đảm nguồn bổ sung thường xuyên và tạo lập các bộ sưu tập tư liệu khoa học tương ứng với chức năng và nhiệm vụ của đơn vị Phát triển vốn tài liệu là khâu đầu tiên trong dây chuyền thông tin - tư liệu. Đây là hoạt động có ý nghĩa quyết định trong hoạt động thông tin thư viện.
Vì vậy, bổ sung phát triển vốn tài liệu là một công tác quan trọng, nó quyết định chất lượng của kho tài liệu, cũng có ý nghĩa quyết định mức độ thỏa mãn nhu cầu tin của NDT [26] * Xử l tài liệu và tạo lập các sản phẩm thông tin Hoạt đông xử lý tài liệu bao gồm: Xử lý hình thức và xử lý nội dung tài liệu 15 Xử lý hình thức tài liệu còn gọi là mô tả thư mục tài liệu, là cung cấp cho tài liệu một mô tả duy nhất, giúp cho việc xác định tài liệu, sắp xếp chúng, đưa chúng vào hệ thống tra cứu và tìm kiếm của thư viện. Xử lý nội dung tài liệu giúp NDT tìm tài liệu theo dấu hiệu của nội dung tài liệu cần tìm, nắm bắt được các yếu tố cần thiết của tài liệu trước khi tiếp xúc với tài liệu. Từ đó NDT tìm được tài liệu chính xác, phù hợp với nội dung cần tìm và tiết kiệm thời gian. Mô tả nội dung bao gồm các công việc: Phân loại tài liệu, định từ khóa, tóm tắt, chú giải tài liệu giúp cho việc lưu trữ thông tin và tìm kiếm tài liệu theo nội dung.
Kết quả của hoạt động xử lý tài liệu là tạo ra các sản phẩm thông tin. Các sản phẩm thông tin chủ yếu là: Hệ thống mục lục, các ấn phẩm thư mục, các cơ sở dữ liệu. Đó là các công cụ lưu trữ thông tin và đồng thời cũng là công cụ tìm kiếm thông tin. * Tổ chức các dịch vụ thông tin Hoạt động quan trọng nhất đối với một thư viện là tổ chức các dịch vụ thông tin nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của NDT.
Các dịch vụ thông tin chủ yếu bào gồm: ~ Dịch vụ cung cấp tài liệu - Dich vụ tra cứu tin - Dich vu thông tin tư vấn, hỏi đáp - Dịch vụ cung cấp thông tin theo yêu cầu (Phổ biến thông tin có chọn lọc) ~ Triển lãm giới thiệu sách ~ Đào tạo người dùng tin * Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thông tin - thư viện Công nghệ thông tin và viễn thông là công nghệ mũi nhọn của thời đại ngày nay. Nó cung cấp các phương tiện và công cụ giúp con người khai thác và sử dụng, ứng dụng có hiệu quả trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu, sản xuất và đời sống xã hội đặc biệt là quá trình tự động hóa các hoạt động thông tin khoa học. Trong hoạt động TT - TV, ứng dụng CNTT nhằm hiện đại hóa các hoạt động của thư viện, nâng cao hiệu quả của các sản phẩm và dịch vụ thông tin đang là xu hướng tắt yếu hiện nay. Việc ứng dụng CNTT trong hoạt động TT - TV được thực hiện trên hai công việc sau: 16 - Đầu tư trang thiết bị cơ sở hạ tầng CNTT cho thư viện: Máy tính, thiết bị mạng, thiết bị sao chụp.
- Sử dụng phần mềm ứng dụng quản trị thư viện để tự động hóa các khâu hoạt động nghiệp vụ của thư viện. * Quan hệ hợp tác và trao đôi thông tin Trong bối cảnh toàn cầu hóa, xu thế hợp tác đang diễn ra ngày càng sâu rộng và toàn diện. thư viện là nơi chuyển giao trỉ thức sẽ đóng vai trò quan trọng trong xu thế hợp tác và chia sẻ tri thức. Các hoạt động hợp tác giữa các thư viện, trao đổi và chia sẻ nguồn tin là biện pháp góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của thư viện.
Trong dự thảo luật thư viện Việt Nam, vấn đề chia sẻ hợp tác cũng được nhắc đến như là chức năng, nhiệm vụ của thư viện chuyên ngành.