CHƯƠNG 1 TONG QUAN TAI LIEU 1. TĨNH HÌNH NGHIÊN COU VE DONG VAT GIÁP XÁC CỠ LỚN TRÊN THÊ GIỚI Việc nghiên cứu về thuỷ sinh học nói chung và Giáp xác cỡ lớn nói riêng trên thế giới đã có từ rắt sớm ở các nước châu Âu, và cũng bắt đầu từ các nước châu Á vào những năm giữa thế kỷ XIX. Bắt đầu với những công trình Nghiên cứu về động vật Giáp xác nhỏ trong nước hồ ở Đức của. Muller (1845) và của Eransmus ở Thụy Sỹ, thuật ngữ "plankton” lần đầu tiên được đề xuất.
Cùng với các công trình nghiên cứu chế độ nước của hồ Leman ở Thụy Sỹ của Forel (1892-1895), có thể coi day là những cơ sở đầu tiên của Hỗ ao học (Limnology) cũng như của thủy sinh học nước ngọt thế giới. Nghiên cứu về Thủy sinh học nước ngọt cũng phát triển vào giữa thể kỷ XIX với nghiên cứu về ĐVN của Birge, Juday ở hỗ Mendota (1950) và đặc biệt là lần đầu tiên có sự mô tả hồ với thủy sinh vật như một hệ sinh thai (Forbes, 1887) [20] Vige nghién cứu thủy sinh học nước ngọt nói chung và Giáp xác cỡ lớn nói riêng còn được thúc đẩy bởi sự chế tạo ra các thiết bị nghiên cứu như đĩa Secchi, lưới vớt sinh vật phù du ở hỗ, gầu thu mẫu sinh vật đáy, tạo. điều kiện cho việc nghiên cứu định lượng. Tuy nhiên cùng với sự phát triển của phân loại học đông vật, với những cơ sở lý luân và phương pháp nghiên cứu ngày càng được nâng cao, phạm vĩ nghiên cứu ngày cảng được mở rộng, cho tới nay hệ thống phân loại tôm cua nước ngọt đã có nhiều.
thay đổi so với giai đoạn đầu [20], [24]. Vào cuối thế kỷ XIX đã có sự thành lập một số trạm nghiên cứu thủy. sinh học nước ngọt đầu tiên trên thể giới như trạm Plon ở Đức (1891), Glubokoe ở Nga (1894), Illinois & My (1894) và tiếp theo là các trạm ở Thụy Điễn và Đan Mạch đã thúc đây việc nghiên cứu ngày càng phát triển mạnh hơn. Trong giai đoạn đầu tiên này các nghiên cứu thủy sinh học nước.
ngọt chủ yếu còn mang tính chất điều tra ở từng địa phương, góp phần nghiên cứu đặc tính các thủy vực nước ngọt của tùng địa phương ở các nước [20] Nghiên cứu thủy sinh học nước ngọt tiếp tục phát triển được bắt đầu. tir dau thé ky XX. Khi có sự phát triển của hỗ ao học nói chung và sự phát triển của kỹ thuật khảo sát, đặc biệt là kỹ thuật, thiết bị định lượng. Thủy sinh học nước ngọt bắt đầu đi vào nghiên cứu các vấn đề về lý luận, chu trình vật chất trong các thủy vực với sự tham gia của thủy sinh vật, nang suất sinh học của thủy vực, cơ chế, môi quan hệ và hệ quả của các quá trình.
chuyển hóa vật chất và năng lượng trong thủy vực - được coi như một hệ sinh thái ở nước. Trong giai đoạn này những nhà khoa học tiêu biểu di đầu cho sự phát triển của thuỷ sinh học nước ngọt gồm có: Welch (1935), Rutter (1940), Hutchison (1957), Thiennman (1925, 1934), Vinberg (1966) 'Vào cuối thế kỷ XX, trong quá trình nghiên cứu các vấn đẻ về cân bằng vật chất và năng lượng trong các thủy vực, loại hình học thủy vực thì lại tiếp cân với vấn đề về ô nhiễm môi trường nước do tác động tiêu cực của việc phát triển công nghiệp và dân số làm suy thoái tài nguyên môi trường nước. ngày càng to lớn. Từ những thực trạng đó đã đặt ra một vấn đẻ phải đánh giá, dự báo được tinh hình ô nhiễm, hệ quả và đưa ra được các giải pháp khắc phục [20].
Về việc nghiên cứu thành phần loài và sự phân bố của Giáp xác cỡ lớn nước ngọt trong khu vực Đông châu Á đã được nhiều tác giả nghiên cứu từ những năm giữa cuối thé ky XIX với những công trình đầu tiên của De Man (1892), Kemp (1918), Bouvier (1904, 1919, 1925). Trong số những, công trình này phải kể đến công trình rất lớn của De Man (1892) nghiên cứu về tôm nước ngọt thuộc các họ Palaemonidae và Atyidae ở vùng Đông Ấn Độ, Indonesia và các vùng lân cận. Trong công trình này, kết quả nghiên cứu thành phần loài các giéng Palaemon, Macrobrachium, Caridina đã tìm thấy, trong đó có nhiều loài mới được mô tả. trình lớn khác nghiên cứu về tôm Palaemonidae ciia Holthuis (1950), từ kết ‘qua của các chuyến khảo sát Siboga (1899-1900) và Snellius (1929-1930) & vùng phía Tây Thái Bình Dương.
Công trình đã công bố thành phần loài tôm Palaemonidae đã tìm thấy, trong đó có các loài tôm nước ngọt thuộc các giống Palaemon, Macrobrachium [20], [24] 'Vào những năm 30 của thể kỷ XX, đã có nhiều công trình nghiên cứu. về loài tôm Atyidae ở Trung Quốc, trong đó tiêu biểu là các công trình của. Yu (1938), Shen (1948) đã mô tả nhiều loài mới cho vùng này. Tuy nhiên, phải tới cuối thế kỷ XX cho tới nay, nghiên cứu vẻ tôm Atyidae ở Trung Quốc mới được chú ý và nghiên cứu nhiều hơn với những công trình nghiên cứu của Liang, Vang, Cai (1996) đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng.
Một tập động vật chí Trung Quốc (tập 36) đã được công bố riêng về tôm Atyidae (Liang X., 2003) bao gồm 130 loài và phân loài thuộc 74 giống, trong đó giống Caridina có 25 loài, Neoearidina 12 loài, còn lại các loài thuộc các giống T);phiocaridina, Paracaridina và Manicaris [23], [24]. Trong 46, giong Caridina chiếm nhiều loài nhất (5 loài), còn các giống khác có số loài ít hơn. Về khu hệ tôm Atyidae Nhật Bản, gần đây còn có nhiều công trình nghiên cứu của Cai, Shigemitsu, Kiyoshi (2006), tu chỉnh phân loại học một số loài tôm Cariđiaz Nhật Bản do Stimpson (1860) công bồ trước đây [23], [24]. Tai Philippin, từ nửa đầu thể kỷ XX đã có nhiều công trình nghiên cứu.
về tôm Atyidae, trong đó phải kể đến các công trình ca Blanco (1935, 1939) và gần đây là công trình của Chace (1997), công bố các kết quả nghiên cứu tôm Atyidae của chuyến khảo sát Albatros (1907-1910) tại Philippines và công trình nghiên cứu của Cai (2004) với 41 loài tôm thuộc các giống Afyoida, Atyopsis và Caridina, trong đố nhiều nhất là giống Caridina (38 loài). Năm 2004 có các công trình nghiên cứu của Cai và Anker da bổ sung nhiều loài và giống mới cho khu hệ tôm Atyidae của Philippin, bao gồm 19 loài, trong đó nhiều loài mới được mô tả gồm. Parisia macrophora, Caridina sama, C. Trong khi đồ tại Myanmar, tôm Atyidae còn được nghiên cứu rit it, Cong trinh nghiên cứu đầu tiên của Kemp (1918) chỉ cho biết 2 loài.
2000, có các công trình nghiên cứu của Cai và Peter mới bổ sung thêm 3 loài mới được mô tả gồm: €. Ti Indonesia, tôm Atyidae được nghiên cứu từ rất sớm vào những năm cuối của thế kỷ XIX, trong đó phải kế đến Công trình nghiên cứu của De Man (1892) về tôm, cua của vùng này. Kết quả nghiên cứu tác giả đã công bố 11 loài thuộc các giống Atya (2 loai) va Caridina (9 loài), trong đó có nhiều loài mới được mô tả. Đến năm 1978 tôm Atyidae của Indonesia đã được ohthuis nghiên cứu và bổ sung 4 loài cho vùng này gồm: 4iya spinipes, A pllipes.
Tại Singapore, tôm Atyidae đã được nghiên cứu bởi các công trình của Peter (1990, 1991), Satish và Choy, các tác giả đã ghỉ nhân 5 loài tôm Caridina đã biết và một loài tôm Caridina mới được mô ta la Caridina temasek [23], [24] VỀ tôm nước ngọt Palaemonidae có tầm quan trọng về kinh tế nên đã được nghiên cứu đầy đủ hơn so với tôm Atyidae. Cho tới nay đã thống kê được 276 loài thuộc 13 giống của họ này, trong dé giéng Macrobrachium có thành phần loài lớn nhất, phân bố phổ biến ở vùng Đông và Nam chau A gồm khoảng 220 loài và phân loài sống ở nước ngọt và nước Ig. Trung Quốc là nước có số loài Macrobrachium phong phú, với 33 loài đã được nghiên cứu và công bố từ những năm 30 của thế kỷ XX bởi Yu (1931) và sau đó được nhiều tác giả điều tra phát hiện và bổ sung gồm Dai (1984), Liu et al. (1990), Cai et al.
(1999), Shy et al. (1998) và nhất là công trình tổng hợp về tôm Palaemonidae công bố trong tập 44 của Động vật chí Trung Quốc đo tác giả Li và Liu et al. Nhiều loài tôm. thuộc giống Äfacrobrachium mới cho khoa học đã được công bồ ở Trung.
Quốc, có I1 loài được coi là đặc hữu của Trung Quốc (45,8%) (Rung, T. Ở nhật Bản, trên phần lãnh thổ chính, tôm Palaemonidae nước ngọt ít được nghiên cứu, cho tới nay, mới được ghi nhận có 4 loài. Trong khi đó, thành phần loài tôm AZacrobzachim ở quần đảo Ryukyu (Nam. Nhật Bản) có tới 12 loài Tại Philippines, thành phần loài tôm Palaemonidae (Macrobrachium) nước ngọt khá phong phú, đã thống kê được 20 loài, trong đó có một số loài phân bố rộng trong khu vực như: À.
va m6t s6 loai đặc trưng cho Philippines nhu: M. Thành phần loài tôm Palaemonidae (Macrobrachium) ở Malaysia và Singapore cũng đã được nhiều tác giả nghiên cứu, trong đó phải kể đến các công trình của Peter (1989, 1990, 1994, 1995) và của Choy (1989, 1990), Các tác giả này đã đưa một danh lục bao gồm 15 loài tôm Äføcrobrachium ở vùng này, với những loài phổ. biến trong khu vực như Af. laz, và một số loài đặc trưng cho vùng này, nhu: M.
Tại Indonesia, thành phần loài tôm Palaemonidae nước ngọt (Macrobrachium) đã được nghiên cứu từ rất sớm bởi những chuyển khảo sát Sibora (1899- 1900) và Snellius (1929-1930). Kết quả nghiên cứu các tác giả đã công bó. có 9 loài phân bổ trong khu vực và có 7 loài đặc trưng cho vùng này như: AM joppae, M. Trong khi đó, tôm Palaemonidae tai Thái Lan, trong vùng Đông Dương và gần sát với Việt Nam trong lưu vực sông Mê Kông.
cũng đã được nghiên cứu từ rất sớm bởi các tác giả De Man (1879), Lanchester (1902), Kemp (1918), đã phát hiện ra các loài M. Sau đô thành phần loài tôm nước ngọt Thái Lan còn được bổ sung nhiều loài mới như A⁄ pilimanus, M. Gần đây nhất, thành phần loài tôm Macrobrachium Thai Lan đã được tổng hợp lại và lập danh lục 25 loài trong đó có 3 loài mới được mô tả (M. Có thể coi đây là danh lục thành phần loài đầy đủ nhất về tôm Macrobrachium' ở Thái Lan hiện nay [24] Tại Lào, tôm nước ngọt còn ít được nghiên cứu.
Gần đây có công. trình mới được công bố của Yukio Hamura et al, 2011, cho biết, tôm Macrobrachium (Plaemonidae) trong các thuỷ vực thuộc lưu vực sông Mekong ở Lào, có 11 loài gồm những loài da biết, trong khu vực như: A7.