CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái quát về kế toán trách nhiệm 1.1 Khái niệm, bản chất và vai trò của kế toán trách nhiệm 1. Khái niệm của kế toán trách nhiệm Theo Atkinson và cộng sự (2001) thì kế toán trách nhiệm là: “Một hệ thống kế toán có chức năng thu thập, tổng hợp và báo cáo các dữ liệu kế toán có liên quan đến trách nhiệm của từng nhà quản lý riêng biệt trong một tổ chức, thông qua các báo cáo liên quan đến chi phí, thu nhập và các số liệu hoạt động bởi từng khu vực trách nhiệm hoặc đơn vị trong tổ chức; Một hệ thống cung cấp thông tin nhằm đánh giá trách nhiệm và thành quả của mỗi nhà quản lý, chủ yếu ở khía cạnh thu nhập và những khoản chi phí mà họ có quyền kiểm soát đầu tiên (quyền ảnh hưởng); Một hệ thống kế toán tạo ra các báo cáo chứa cả những đối tượng có thể kiểm soát và không thể kiểm soát đối với một cấp quản lý. Theo đó, những đối tượng có thể kiểm soát và không thể kiểm soát được phân tách rõ ràng, và có sự nhận diện những đối tượng có thể kiểm soát được là một nhiệm vụ cơ bản trong kế toán trách nhiệm và báo cáo trách nhiệm” [16].
Theo Emmanuel và cộng sự (1990) thì kế toán trách nhiệm là sự thu thập tổng họp và báo cáo những thông tin tài chính về những trung tâm khác nhau trong một tổ chức (những trung tâm trách nhiệm), cũng còn được gọi là kế toán hoạt động hay kế toán khả năng sinh lợi. Nó lần theo các chi phí, thu nhập hay lợi nhuận đến những nhà quản lý riêng biệt, những người chịu trách nhiệm cho việc đưa ra các quyết định về chi phí, thu nhập hay lợi nhuận đang được nói đến, và thực thi những hành động về chúng. Kế toán trách nhiệm tỏ ra phù hợp ở những tổ chức mà ở đó nhà quản lý cấp cao thực hiện chuyển e 8 giao quyền ra quyết định cho các cấp thuộc quyền. Theo đó, ý tưởng đằng sau kế toán trách nhiệm là kết quả hoạt động của mỗi nhà quản lý, nên được đánh giá bởi việc họ đã quản lý những công việc được giao nằm trong sự ảnh hưởng của họ tốt hoặc xấu như thế nào [17].
Theo Huỳnh Lợi (2009), KTTN là một hệ thống thừa nhận mỗi bộ phận (thành viên, con người) trong một tổ chức có quyền chỉ đạo và chịu trách nhiệm về những nghiệp vụ riêng biệt thuộc về phạm vi quản lý của mình, họ phải xác định, đánh giá và báo cáo cho tổ chức, thông qua đỏ các cấp quản lý cao hơn sử dụng các thông tin này để đánh giá thành quả của các bộ phận trong tổ chức [7, tr. Nhóm tác giả Phạm Văn Dược, Trần Thanh Tùng (2011) đề cập KTTN là hệ thống kế toán tập hợp kết quả theo từng lĩnh vực thuộc trách nhiệm cá nhân, bộ phận, nhằm giám sát và đánh giá kết quả của từng bộ phận trong tổ chức [4, tr. Có nhiều định nghĩa khác nhau về kế toán trách nhiệm và sự khác nhau đó là do cách nhìn nhận của mỗi tác giả về đặc điểm, ý nghĩa của kế toán trách nhiệm nhưng sự khác nhau đó không mang tính chất đối nghịch mà nó lại bổ sung cho nhau để chúng ta hiểu rõ hơn về kế toán trách nhiệm. Tuy nhiên các định nghĩa trên có sự tương đồng nhau, đó là đều nhấn mạnh đến cách phân cấp quản lý và phân chia trách nhiệm cho các bộ phận chức năng, được đánh giá thông qua số liệu kế toán.
Như vậy có thể hiểu kế toán trách nhiệm là một bộ phận của kế toán quản trị nhằm phân chia hệ thống thành các trung tâm khác nhau và người đứng đầu mỗi trung tâm chỉ phải chịu trách nhiệm về kết quả của trung tâm mà mình quản lý. Để có thể đo lường thành quả của mỗi trung tâm trách nhiệm thì cần phải thiết lập các chỉ tiêu để đo lường thành quả đó. Bản chất của kế toán trách nhiệm KTTN là hệ thống thu thập, xử lý và truyền đạt các thông tin tài chính và phi tài chính có thể kiểm soát theo phạm vi trách nhiệm của từng nhà quản trị nhằm đạt được mục tiêu chung của tổ chức. Bản chất của KTTN là mỗi bộ phận được phân cấp quản lý, có quyền kiểm soát, chỉ đạo và chịu trách nhiệm về những nghiệp vụ riêng biệt thuộc phạm vi phân cấp quản lý của mình.
Việc phân cấp quản lý tạo nên cơ cấu phức tạp và đòi hỏi cấp trên phải nắm được kết quả thực hiện của cấp dưới. Vì thế, KTTN được xây dựng để theo dõi kết quả, hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong doanh nghiệp. KTTN chỉ được thực hiện ở doanh nghiệp có cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý được phân quyền một cách rõ ràng. Hệ thống KTTN trong các tổ chức khác nhau được xây dựng phù hợp với cơ cấu tổ chức quản lý, mức độ phân quyền và mục tiêu của doanh nghiệp.
KTTN là một nội dung cơ bản của KTQT. KTTN là một bộ phận trong một tổ chức hoạt động mà nhà quản trị bộ phận chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của bộ phận mình đối với nhà quản trị cấp cao. Điều này không chỉ đảm bảo cung cấp thông tin đầy đủ rõ ràng về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mà còn xác định rõ nguyên nhân và bộ phận nào có kiểm soát với hoạt động xảy ra. KTTN là một trong những công cụ quản lý kinh tế tài chính có vai trò quan trọng trong điều hành, kiểm soát cũng như đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của từng bộ phận trong đơn vị.
KTTN giúp thu thập và báo cáo các thông tin đầu vào - nguồn lực tiêu hao và đầu ra - doanh thu, kết quảsản xuất, chất lượng dịch vụ. theo kế hoạch và thực tế của các trung tâm trách nhiệm. Từ đó so sánh giữa thực tế và dự toán tìm ra các sai lệch trên cơ sở đó các bộ phận có thể kiểm soát hoạt động và chi phí phát sinh tại bộ phận. Vai trò của kế toán trách nhiệm KTTN với mục đính là đo lường và đánh giá hiệu quả hoạt động của các bộ phận trong đơn vị, qua đó giúp nhà quản trị kiểm soát và đánh giá trách nhiệm quản trị ở từng cấp quản trị khác nhau.
Vai trò của KTTN được thể hiện ở những khía cạnh sau đây: Thứ nhất, KTTN giúp xác định sự đóng góp của từng đơn vị, bộ phận vào lợi ích của tổ chức. Thứ hai, KTTN cung cấp một cơ sở cho việc đánh giá chất lượng về kết quả hoạt động của những nhà quản lý bộ phận. KTTN xác định các trung tâm trách nhiệm, qua đó các nhà quản lý có thể hệ thống hóa các công việc của các trung tâm trách nhiệm mà thiết lập các chỉ tiêu đánh giá. Thứ ba, KTTN được sử dụng để đo lường kết quả hoạt động của các nhà quản lý và do đó, nó ảnh hưởng đến cách thức thực hiện hành vi của các nhà quản lý này.
Thứ tư, KTTN thúc đẩy các nhà quản lý bộ phận điều hành bộ phận của mình theo phương cách phù hợp với những mục tiêu cơ bản của toàn bộ tổ chức. Mục tiêu chiến lược của các doanh nghiệp được gắn với các trung tâm trách nhiệm. Vì vậy các nhà quản lý của trung tâm trách nhiệm sẽ hoạt động sao cho phù hợp với các mục tiêu của doanh nghiệp. Thứ năm, KTTN trong việc kiểm soát và đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
KTTN giúp nhà quản trị các cấp xác định trách nhiệm của mình và sẽ phải chịu trách nhiệm đó với nhà quản trị cấp cao hơn trong quá trình hoạt động kinh doanh để đặt được mục tiêu. KTTN cũng giúp nhà quản trị các cấp đánh giá được hoạt động kinh doanh của bộ phận mình. Từ đó nhà quản trị cấp dưới chủ động ra quyết định kinh doanh, các nhà quản trị cấp cao tập trung vào các quyết định chiến lược kinh doanh. Sự phân cấp quản lý - cơ sở của kế toán trách nhiệm 1.
Khái niệm về phân cấp quản lý Để thực hiện chức năng quản lý trong doanh nghiệp, mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản trị là sự phân cấp quản lý. Phân cấp quản lý là việc người quản lý giao quyền ra quyết định cho cấp quản lý thấp hơn trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp và cấp quản lý thấp hơn chỉ ra quyết định trong phạm vi trách nhiệm của mình [1, tr 72]. Tùy theo từng doanh nghiệp, mức độ phân chia có thể khác nhau, gồm nhiều cấp độ hay chỉ một cấp và việc giao quyền quyết định có thể nhiều hay ít. Nếu quyền lực được phân tán quá rộng xuống cấp dưới thì nhà quản trị sẽ gặp khó khăn trong việc kiểm tra, giám sát, hoạt động của các bộ phận sẽ không đảm bảo được tính thống nhất.
Ngược lại, nếu doanh nghiệp tập trung quyền lực, trực tiếp quản lý điều hành xử lý những công việc mang tính chất tác nghiệp đến những công việc mang tính chất chiến lược thì sẽ dẫn đến tình trạng sa đà vào những công việc hàng ngày, không có nhiều thời gian cho các kế hoạch lâu dài và hoạch định các chiến lược phát triển. Kế toán trách nhiệm gắn liền với phân cấp quản lý, hệ thống kế toán trách nhiệm hoạt động thực sự hiệu quả trong các tổ chức mà sự phân quyền được thực hiện đúng mức và phù hợp với cơ cấu tổ chức. Phân cấp quản lý cao hay thấp sẽ quyết định bộ máy kế toán được tổ chức như thế nào: tập trung, phân tán hay vừa tập trung vừa phân tán. Như vậy, phân cấp quản lý là sự phân quyền cho cấp dưới, đó là sự phân định rõ ràng về quyền lợi và trách nhiệm trong quản lý cho cấp dưới dựa trên cơ sở cấu trúc phân quyền mà nhà quản trị đã lựa chọn.
Vai trò của phân cấp quản lý Sự phân cấp quản lý trải rộng việc quyết định cho nhiều cấp quản lý. Do vậy người quản lý cấp trên sẽ giảm việc giải quyết các vấn đề phát sinh xảy ra e 12 hàng ngày nên họ có thể tập trung vào việc lập ra các kế hoạch dài hạn và điều phối hoạt động của các bộ phận trong tổ chức, đảm bảo thực hiện hài hòa các mục tiêu chung của đom vị.