Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và Cơ sở lý luận về Tổ chức kế toán tại các đơn vị sự nghiệp công lập. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng Tổ chức kế toán tại Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam. Chương 4: Hoàn thiện Tổ chức kế toán tại Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam.
CHUONG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VA CƠ SỞ LY LUAN VE TO CHUC KE TOAN TAI CAC DON VI SU NGHIEP CONG LAP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về Tổ chức kế toán 1. Các nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới, lĩnh vực Tổ chức kế toán trong các đơn vi sự nghiệp, chỉ có một số ít tác giả nghiên cứu. Ba trong số các tác giả đó là Earl R.Kattelus đã cùng tham gia một số công trình và viết cuốn sách nồi tiếng với tiêu đề là “Kế toán Nhà nước và các tổ chức phi lợi nhuận” (Accounting for Governmental and Nonpofit Entities).
Day có thé coi là một công trình nghiên cứu khá công phu về các khía cạnh khác nhau hoạt động của các đơn vị HCSN nói chung. Các nội dung nghiên cứu trong cuốn sách bao gồm các nguyên tắc kế toán chung được chấp nhận, hướng dẫn cách thức ghi nhận các sự kiện, cách thức lập báo cáo tài chính cuối kỳ. Nghiên cứu cũng đi sâu vào phân tích đặc thù hoạt động của một số lĩnh vực sự nghiệp đặc thù như tô chức kế toán trong các trường học, bệnh viện, các đơn vi lực lượng vũ trang. Các nghiên cứu trong nước.
Luận văn thạc sĩ: “Hoàn thiện Tổ chức kế toán tại các trường đại học thuộc đại học Thái Nguyên” (2011) của tác giả Trần Thị Bích Thảo. Luận văn đã đề cập thực trạng Tổ chức kế toán tại các trường đại học thuộc đại học Thái Nguyên. Luận văn đã khái quát cơ sở lý thuyết của Tổ chức kế toán tại đơn vị sự nghiệp có thu. Luận văn đã nêu ra thực trạng về các nội dung trong Tổ chức kế toán như: tổ chức bộ máy kế toán tại các đơn vị, tô chức hệ thống chứng từ kế toán, hệ thống tài khoản kế toán, hệ thống số sách kế toán, hệ thống báo cáo kế toán và công tác tô chức kiểm tra kế toán tại các trường đại học thuộc đại học Thái Nguyên và đề ra các giải pháp hoàn thiện.
Tuy nhiên, luận văn chỉ mới chú trọng đưa ra thực trạng và đề ra các giải pháp trong nội dung công tác kế toán mà chưa chỉ ra thực trạng trong cơ chế quản lý tài chính tại các đơn vị được đề cập như: nhiệm vụ thu, nội dung chi, quy trình quản lý tài chính: công tác lập dự toán sử dụng kinh phí, chấp hành dự toán và quyết toán kinh phí đã sử dụng. Đề tài “Hoàn thiện Tổ chức kế toán tại trường cao đăng công nghệ kinh tế và thủy lợi miền Trung” (2012) của tác giả Hoàng Lê Uyên Thảo. Luận văn đã khái quát cơ sở lý luận về Tổ chức kế toán tại các đơn vi sự nghiệp. Luận văn cũng đã nêu ra thực trạng Tổ chức kế toán tại trường cao đăng công nghệ kinh tế và thủy lợi miền Trung về tổ chức hệ thống chứng từ, tổ chức hệ thống tài khoản kế toán, tổ chức hệ thức số kế toán, t6 chức hệ thống báo cáo kế toán và tổ chức kiểm tra kế toán.
Từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện. Tuy nhiên, luận văn chưa đề cập đến cơ chế quản lý tài chính tại trường, về nội dung thu - nhiệm vụ chi và quy trình quản lý tại đơn vị. Vì thế, luận văn cũng chưa đưa ra được thực trạng của cơ chế quản lý tại đơn vị. Luận văn thạc sĩ: “Hoản thiện tổ chức kế toán tại Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia — Sự thật” (2016) của tác giả Trần Phương Linh.
Luận văn đã khái quát được những van dé cơ ban trong tổ chức kế toán tại các đơn vị sự nghiệp có thu, chỉ ra thực trạng cơ chế quản lý tài chính, các nội dung trong Tổ chức kế toán tại Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật” Tuy nhiên, về cơ sở lý thuyết, luận văn chưa đi sâu phân tích trong tổ chức bộ máy kế toán về đặc điểm lao động kế toán, xây dựng quy chế hoạt động của bộ máy kế toán, chưa chỉ ra những yêu cầu của tổ chức kế toán trong đơn vị sự nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý. Về thực trạng và đề xuất giải pháp, tác giả luận văn đã chỉ ra những tôn tại trong cơ chế quản lý tài chính, tuy nhiên chưa được ra được những giải pháp nhằm khắc phục những tôn tại ấy. Bên cạnh đó còn nhiều tác giả khác cũng lựa chọn đề tài hoàn thiện Tổ chức kế toán tại các đơn vị sự nghiệp công như: Tác giả Trần Thị Thanh Định với Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh “Hoàn thiện tổ chức kế toán tại trường Cao dang Thương mại” (2011) trong công trình nghiên cứu này, tác giả chủ yếu đề cập đến việc hoàn thiện tô chức kế toán với một số nội dung còn khiếm khuyết về: Hệ thốn g chứng từ kế toán, hệ thống tài khoản và cách ghi chép; hệ thống số sách kế toán, Báo cáo tài chính, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin.Từ đó tác giả đề xuất một số kiến nghị đối với Nhà nước và các cơ quan quản lý về một số vấn đề như: Sửa đôi chế độ kế toán phải kịp thời và tình hình thực tế, phân loại tài khoản trong hệ thống tài khoản cho phù hợp liên quan đến nhóm TK loại 3 - Thanh toán. Tác giả Hoàng Thị Thanh Tú với Luận văn Thạc sĩ QTKD “Hoàn thiện công tác hạch toán kế toán tại các đơn vị dự toán cấp 3 thuộc Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh” (2012).
Tác giả đề cập đến thực trạng Tổ chức kế toán và công tác hạch toán kế toán tại đơn vị, tác giả chỉ ra những hạn chế trong việc vận dụng hệ thống chứng từ, hệ thống số sách, báo cáo,. Đặc biệt, đối với công tác hạch toán kế toán, tác giả đã phân tích rõ việc hạch toán sai tài khoản kế toán và vận dụng chưa đúng ở 1 số tài khoản như TK 113, 336, 005, .so với quy định. Từ đó tác giả đưa ra một số giải pháp có thé khắc phục và áp dụng tại đơn vị. Tác giả Trần Thị Thuan - Đại hoc Da Nẵng với luận văn: “Hoàn thiện công tác kế toán tại trường Cao đăng nghề Đà Nẵng” (2014), tác giả Đặng Thị Thảo Nguyên - Đại học Đà Nẵng với luận văn “Hoàn thiện công tác kế toán tại các đơn vị sự nghiệp thuộc Sở xây dựng Đà Nẵng” (2015) Từ phần nghiên cứu tổng quan các công trình nghiên cứu trước đó, có thé thấy chưa có công trình khoa học nào tiếp cận đến vấn đề tô chức kế toán tại các đơn vị CNCL trong điều kiện tự chủ tài chính theo Thông tư 107/2017/TT-BTC và Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21/6/2021 một cách hệ thống có tính tổng hợp cả về cơ sở lý luận và thực tiễn.
Đó chính là khoảng trống nghiên cứu của luận văn. Điều này khăng định tính độc lập và không trùng lặp của luận văn. Giới thiệu chung về đơn vị sự nghiệp công theo mô hình đơn vị tự chủ tài chính 1. Khái niệm đơn vị sự nghiệp công Đơn vị sự nghiệp công là đơn vị do cơ quan có thâm quyền của Nhà nước tô chức chính trị, chính trị — xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng.
Các đơn vi sự nghiệp công hoạt động nhằm phục vụ công tác quản lý điều hành của Nhà nước hoặc cung cấp các sản phẩm, dịch vụ công trong các ngành và lĩnh vực theo quy định của pháp luật phục vụ cho các nhu cau, lợi ich chung thiệt yêu, các quyên và nghĩa vụ cơ bản của các tô chức cá nhân, đảm bảo công bằng trong phân phối và khả năng tiếp cận bình đăng giữa mọi công dân nhất là các dịch vụ cơ bản. Các đơn vị sự nghiệp công có sử dụng ngân sách nhà nước nên hệ thống kế toán phải tuân theo Chế độ kế toán hành chính sự nghiệp và Hệ thống mục lục ngân sách nhà nước dé phục vụ công tác quan lý và thống kê. Theo Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 06 năm 2021, các đơn vị sự nghiệp công được giao cơ chế tự chủ, nhăm phát huy mọi khả năng của đơn vị dé cung cấp dịch vụ với chất lượng cao cho xã hội và tăng nguồn thu nhằm từng bước giải quyết thu nhập cho người lao động, giảm lệ thuộc vào ngân sách nhà nước. Nghị định này quy định các nguyên tắc, quy định chung về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công trong các lĩnh vực: Giáo dục dao tạo; giáo dục nghề nghiệp; y tế - dân số; văn hóa, thé thao và du lịch; thông tin và truyền thông; khoa học và công nghệ; các hoạt động kinh tế và lĩnh vực khác.
Đơn vị sự nghiệp công do cơ quan có thâm quyền của Nhà nước thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công). Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau: - “Cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công” là các quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện quy định về danh mục sự nghiệp công; giá, phí và lộ trình tính giá dịch vụ sự nghiệp công; phân loại mức độ tự chủ tài chính; tự chủ sử dụng nguồn tài chính; tự chủ trong hoạt động liên doanh, liên kết; quản lý, sử dụng tài sản công và các quy định khác có liên quan. - “Dich vụ sự nghiệp công” là dịch vu sự nghiệp trong các lĩnh vực giáo dục dao tạo; giáo dục nghề nghiép; y tế - dân số; văn hóa, thé thao và du lịch; thông tin va truyén thông: khoa học và công nghệ; các hoạt động kinh tế và lĩnh vực khác (gồm: nông nghiệp và phát triển nông thôn, tài nguyên và môi trường, giao thông vận tải, công thương, xây dựng, tư pháp, lao động thương binh và xã hội, sự nghiệp khác). - “Dich vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước” là dịch vụ su nghiệp công cơ bản, thiết yêu và dịch vụ sự nghiệp công mang tính đặc thù của một 36 nganh, lĩnh vực thuộc danh mục do cấp có thâm quyền ban hành, được Nhà nước bảo đảm kinh phí hoặc hỗ trợ kinh phí dé thực hiện.