CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN DOANH THU, CHI PHÍ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Đặc điểm của doanh nghiệp thương mại ảnh hưởng đến kế toán doanh thu, chi phí, xác định kết quả kinh doanh. Khái niệm Doanh nghiệp thương mại Thương mại là một ngành kinh tế độc lập trong nền kinh tế quốc dân, hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực lưu thông, cung cấp tuyệt đại bộ phận hàng hóa, dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Hoạt động thương mại, dịch vụ luôn gắn bó trực tiếp với thị trường, chịu sự chi phối và tác động của các quy luật kinh tế trong cơ chế thị trường.
Theo Luật Doanh nghiệp năm 2020, Doanh nghiệp là một tổ,chức có tên riêng, có tài,sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt,động kinh doanh. Trong đó, kinh doanh là thực hiện một/ một số/ tất cả các khâu của quá,trình đầu tư - sản xuất – tiêu thụ sản phẩm/cung ứng các dịch vụ, nhằm mục đích tạo lợi nhuận. Thuật ngữ DN được nêu áp dụng với các DN thuộc khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản. Các DN thuộc khu vực công nghiệp và xây dựng; các DN thuộc khu vực thương mại,và dịch vụ.
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp TMDV được quyền tự chủ về tài chính, tự chủ về kinh doanh trong khuôn khổ của pháp luật và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh của mình. Đồng thời, được bình đẳng trước pháp luật và tự do cạnh tranh trong khuôn khổ của pháp luật Việt Nam cũng như các thông lệ của luật pháp quốc tế. Doanh nghiệp thương mại là doanh nghiệp thực hiện hoặc chủ yếu thực hiện các hoạt động thương mại nhằm mục đích sinh lời; bao gồm các hoạt động mua – bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động khác nhằm mục đích sinh lời”. Doanh nghiệp thương mại được phân định chủ yếu theo quy mô 10 của doanh nghiệp hình thành các Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp lớn.
Chức năng cở bản của ngành Thương mại là tổ chức luân chuyển hàng hóa và cung cấp các loại dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội cả về số lượng, chất lượng và kết cấu mặt hàng. Đặc biệt là trong điều kiện hiện nay, sự giao lưu quốc tế ngày càng mở rộng, xu hướng hội nhập quốc tế, tự do hóa thương mại ngày càng phát triển. Trong điều kiện đó, ngành Thương mại nói chung và các doanh nghiệp Thương mại nói riêng cần phát huy tính chủ động, sáng tạo trong kinh doanh, khai thác tối đa các lợi thế của mình để kinh doanh đạt hiệu quả cao nhất. Để thực hiện được điều đó, các doanh nghiệp Thương mại, dịch vụ (TMDV) phải huy động tối đa nguồn lực, tổ chức khai thác mặt hàng, đảm bảo số lượng, chất lượng và kết cấu hàng hóa đầy đủ để cung cấp cho nhu cầu tiêu dùng đa dạng của xã hội.
Đặc điểm hoạt động kinh doanh.thương mại ảnh hưởng đến kế toán doanh thu, chi phí, xác định kết quả kinh doanh Hoạt động thương mại hiện nay chủ yếu được phân thành 3 nhóm: mua bán hàng hoá, dịch vụ thương mại và xúc tiến thương mại trong đó dịch vụ thương mại gắn liền với việc mua bán hàng hoá, xúc tiến thương mại là hoạt động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy việc mua bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ thương mại. Doang nghiệp thương mại có thể thực hiện một hoặc nhiều hoạt động thương mại. Đặc điểm cơ bản của hoạt động kinh doanh Thương mại, dịch vụ ảnh hưởng tới tổ chức công tác kế toán, bao gồm: - Hoạt động Thương mại dịch vụ chịu tác động nhạy bén của cơ chế thị trường: Đặc điểm này đòi hỏi doanh nghiệp TMDV phải xuất phát từ nhu cầu thị hiếu tiêu dùng từng khu vực cũng như vận dụng tốt quan hệ cung cầu để khai thác mặt hàng, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng. Theo đó, kế toán phải cung cấp đầy đủ, kịp thời và chính xác các thông tin về tình hình thị trường, công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh từng khu vực cho nhà quản lý nhằm có các quyết định về phương án kinh doanh tối ưu nhất.
11 - Đối tượng kinh doanh phức tạp, vòng quay vốn nhanh: Hoạt động thương mại, dịch vụ liên quan đến nhiều đối tượng khác nhau, tập quán tiêu dùng của các khu vực khác nhau cũng khác nhau, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế và trình độ dân trí của mỗi khu vực. Do đó, đòi hỏi phải có đầy đủ thông tin tin cậy để có quyết định kinh doanh đúng đắn. Điều này, đòi hỏi kế toán với chức năng thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin nói chung và việc ghi nhận các khoản doanh thu, chi phí và xác định kết quả nói riêng để cho các đối tượng sử dụng cần thiết phải đáp ứng kịp thời, đầy đủ và chính xác nên trong việc tổ chức công tác kế toán phải hợp lý, khoa học. - Công nợ tồn đọng nhiều và khó khăn trong thu hồi: Trong bối cảnh hiện nay, để bán được nhiều hàng hóa cần thực hiện nhiều hình thức bán hàng khác nhau như bán hàng theo phương thức bán chịu, bán hàng trả góp, bán hàng thông qua các đại lý… Kế toán cần theo dõi chi tiết công nợ với nhà cung cấp và với khách hàng có liên quan tới từng thương vụ giao dịch, mở các sổ, thẻ khách hàng, nhà cung cấp cho từng đối tượng để theo dõi, lập các báo cáo công nợ theo yêu cầu quản lý.
Mối quan hệ đa dạng dẫn đến rủi ro cao, công nợ tồn đọng nhiều và khả năng thu hồi nợ khó khăn, không ít các doanh nghiệp lợi dụng vấn đề này để hạch toán bù trừ trốn doanh thu nhằm trốn thuế… Điều này đòi hỏi công tác kế toán phải công khai, minh bạch và thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát thường xuyên và ghi nhận doanh thu, chi phí, xác định kết quả cho các phương thức bán hàng cần chú ý hơn. - Đặc điểm về chủng loại mặt hàng kinh doanh: Doanh nghiệp thương mại kinh doanh nhiều mặt hàng với chủng loại nhóm, mặt hàng và tiêu chuẩn khác nhau. Mỗi nhóm, mặt hàng có tính chất thương phẩm khác nhau, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của các đối tượng khác nhau. Vì vậy, kế toán phải mở sổ kế toán theo dõi chi tiết theo từng nhóm, mặt hàng, từng địa điểm kinh doanh về tình hình nhập, xuất, tồn kho và về tình hình doanh thu bán hàng.
Cần phải áp dụng hình thức tính giá vốn hàng xuất, giá vốn hàng tồn kho hợp lý, phù hợp với đặc điểm hàng hóa của từng doanh nghiệp. Dẫn đến việc ghi nhận doanh thu, chi phí, xác định kết quả kinh doanh cho từng mặt hàng cần được chú trọng hơn vì nó sẽ ảnh hưởng đến việc ra quyết định các mặt hàng kinh doanh cho từng khu vực khác nhau. 12 - Đặc điểm về phương thức/hình thức bán hàng: Phương thức/hình thức bán hàng đa dạng như bán buôn, bán lẻ, đại lý, bán trả góp, ký gửi, trả chậm.vì vậy, kế toán bán hàng cần mở các tài khoản kế toán liên quan tới từng phương thức/hình thức này, theo dõi chi tiết và lập báo cáo bán hàng theo từng phương thức/hình thức bán hàng của từng địa điểm kinh doanh. Trên cơ sở đó, nắm được một cách chi tiết về doanh thu bán hàng theo từng phương thức bán hàng.
Phương thức bán hàng có ảnh hưởng trực tiếp đến việc ghi nhận doanh thu bán hàng và sử dụng các tài khoản kế toán khi hạch toán. Tổng quan về doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp 1. Khái niệm và phân loại doanh thu 1.1 Khái niệm doanh thu Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp là quá trình doanh nghiệp mua sắm các yếu tố đầu vào của quá trình SXKD như vật tư, hàng hóa, dịch vụ,. tiến hành tổ chức hoạt động sản xuất, gia công, chế biến, tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, có ảnh hưởng mang tính quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Ngoài ra, doanh nghiệp còn có các khoản thu phát sinh từ hoạt động tài chính và hoạt động khác. Những lợi ích kinh tế được tạo ra từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính được gọi là doanh thu. Điều quan trọng đối với kế toán là nhận biết về doanh thu như thế nào, phạm vi, thời điểm ghi nhận doanh thu và ảnh hưởng của doanh thu đến báo cáo tài chính. Theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế số 15 (IFRS15): “Doanh thu là tổng các lợi ích kinh tế trong kỳ, phát sinh trong quá trình hoạt động thông thường, làm nguồn vốn chủ sở hữu, chứ không phải phần đóng góp của những người tham gia góp vốn cổ phần.
Doanh thu không bao gồm những khoản thu cho bên thứ ba” Theo chuẩn mực kế toán IAS18: “Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh DN thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của DN, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu nhưng không bao gồm khoản góp vốn của các chủ sở hữu vốn” 13 Theo Chuẩn mực kế toán số 14 (VAS14): “Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu, nhưng không bao gồm các khoản góp vồn của các chủ sở hữu”. Theo tông tư 200/2014/TT-BTC ban hành ngày 22/12/2014: Doanh thu là lợi ích kinh tế thu được làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp ngoại trừ phần đóng góp thêm của các cổ đông. Doanh thu được ghi nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh, khi chắc chắn thu được lợi ích kinh tế, được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản được quyền nhận, không phân biệt đã thu tiền hay sẽ thu được tiền. Tuy có nhiều quan điểm khác nhau về doanh thu nhưng về bản chất chúng đều giống nhau và có thể thấy rằng chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS số 14 về doanh thu và mới đây nhất là thông tư 200/2014/TT-BTC là đầy đủ nhất.