Mở đầu Chương này trình bày về lý do nghiên cứu; mục tiêu nghiên cứu; câu hỏi nghiên cứu; đối tượng và phạm vi nghiên cứu; ý nghĩa của nghiên cứu và kết cấu của luận văn. + Chương 2: Cơ sở lý thuyết của nghiên cứu Chương này là một chương rất quan trọng và có thể nói nội dung trong chương này là cơ sở nền tảng trong đề tài. Chương này trình bày cơ sở lý thuyết về thu nhập của người lao động; phân tích và đánh giá các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài. Từ đó các giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu sẽ được xây dựng và phát triển.
5 + Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày thiết kế nghiên cứu; thiết kế mẫu nghiên cứu; phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu; xây dựng và hiệu chỉnh thang đo của nghiên cứu. + Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương này trình bày thông tin thống kê mô tả về mẫu nghiên cứu; các kết quả phân tích hồi qui; kiểm định các giả thuyết nghiên cứu. + Chương 5: Kết luận và kiến nghị Trong chương này, các kết quả nghiên cứu chính trong đề tài sẽ được tóm tắt lại và những kiến nghị khả thi sẽ được trình bày. Chương này cũng chỉ ra những giới hạn trong nghiên cứu và khuyến nghị hướng nghiên cứu tiếp theo.
6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT Chương này trình bày các khái niệm và lý thuyết có liên quan đến đề tài nghiên cứu. Sau khi tổng hợp và phân tích các nghiên cứu trước có liên quan, các giả thuyết và mô hình nghiên cứu sẽ được xây dựng và phát triển. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ TIỀN LƯƠNG – THU NHẬP VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU NHẬP CỦA NHÂN VIÊN VĂN PHÒNG 2. Khái niệm tiền lương – thu nhập 2.
Khái niệm tiền lương Tiền lương có nhiều tên gọi khác nhau như thù lao, thu nhập từ lao động… Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập, bất luận tên gọi hay cách tính thế nào, mà có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, hoặc theo quy định của pháp luật, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo một hợp đồng lao động được viết ra hay bằng miệng, cho một công việc đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện hoặc cho những dịch vụ đã làm hay sẽ phải làm. Nhiều nước trên thế giới như Pháp, Nhật, Đài Loan… cũng có định nghĩa tương tự về tiền lương khi đề cập đến tất cả các khoản tiền mà người lao động được nhận dưới bất kỳ hình thức, tên gọi nào cho công việc được thực hiện. Tiền lương có vai trò rất quan trọng đối với cả nhân viên và doanh nghiệp. Với nhân viên, tiền lương là nguồn thu nhập chính để họ tái sản xuất sức lao động và đảm bảo cuộc sống cho gia đình.
Ở một khía cạnh nhất định, tiền lương còn là bằng chứng thể hiện năng lực, giá trị của một người lao động. Với doanh nghiệp, tiền lương chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí hoạt động và là công cụ quản lý nguồn nhân lực hiệu quả nếu biết sử dụng đúng cách. Tiền lương bao gồm: lương cơ bản, tiền thưởng, phụ cấp và phúc lợi. Trong đó: Lương cơ bản được xác định trên cơ sở mức độ phức tạp của công việc; điều kiện làm việc, trình độ năng lực của người lao động và giá thị trường.
Tiền lương cơ bản được trả cố định cho người lao động do đã 7 thực hiện các trách nhiệm công việc cụ thể. Lương cơ bản được tính theo thời gian làm việc (giờ, ngày, tháng, năm) hoặc theo đơn giá sản phẩm và không bao gồm các khoản được trả thêm như lương ngoài giờ, lương khuyến khích, các loại bảo hiểm bắt buộc… Để giảm bớt chi phí, rất nhiều doanh nghiệp nội địa có hai bảng lương: (1) Một bảng với các hệ số lương/mức lương theo quy định của Nhà nước để đóng các loại bảo hiểm bắt buộc. Tiền lương trong bảng lương này được gọi là lương cơ bản; và (2) Một bảng với các hệ số/mức lương theo năng lực, chức vụ của nhân viên được gọi là bảng hệ số/mức lương kinh doanh. Về bản chất, khi lương kinh doanh không có các khoản thưởng, phụ cấp, lương ngoài giờ… vẫn chỉ là lương cơ bản.
Tiền thưởng (bonus) là tiền trả cho người lao động khi họ hoàn thành công việc tốt hơn yêu cầu bình thường. Thường là một loại kích thích vật chất có tác dụng rất tích cực đối với người lao động trong việc phấn đấu thực hiện công việc tốt hơn. Thưởng có rất nhiều loại như: Thưởng năng suất, chất lượng; thưởng sáng kiến; thưởng theo thành tích… Phụ cấp là tiền trả thêm, bổ sung cho lương cơ bản, bù đắp thêm cho người lao động khi họ phải làm việc trong những điều kiện không ổn định hoặc không thuận lợi mà chưa được tính đến khi xác định lương cơ bản như phụ cấp làm ngoài giờ, phụ cấp làm thêm, phụ cấp đi đường… Ở Việt Nam, có nhiều khoản tiền gọi là phụ cấp nhưng bản chất không phải là phụ cấp. Phụ cấp chức vụ áp dụng cho các cán bộ quản lý (ví dụ Trường phòng), bản chất là tiền lương trách nhiệm.
Phụ cấp xăng, điện thoại… thực chất là một khoản chi phí hoạt động mà Doanh nghiệp nhờ người lao động thanh toán hộ. Phúc lợi (benefit) là khoản tiền thông thường được gián tiếp trả cho người lao động cho thời gian không phải làm việc như bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế; tiền hưu trí; các dịch vụ doanh nghiệp cung cấp như nhà trẻ, khám sức khỏe… Chính vì vậy, ở nước ngoài, tiền lương được phân 8 chia thành thù lao tài chính trực tiếp và thù lao gián tiếp. Lương trực tiếp là những khoản thu nhập thực nhận bằng tiền như tiền lương cơ bản, tiền hoa hồng, phụ cấp, tiền thưởng. Còn lương gián tiếp chủ yếu thể hiện qua các khoản phúc lợi.
Về bản chất, phúc lợi thể hiện sự quan tâm của doanh nghiệp đến đời sống của người lao động. Các khoản tiền tuy gọi là thưởng nhưng lại trả bằng nhau cho nhân viên không phân biệt kết quả làm việc như “thưởng” trong các lễ, “tháng lương thứ 13”…về bản chất là phúc lợi. Như vậy, ở Việt Nam, phúc lợi bao gồm cả các khoản tiền trả gián tiếp và trực tiếp cho người lao động. Lương thực nhận (Net total): là thu nhập thực nhận của người lao động bao gồm tất cả các khoản tiền: lương cơ bản, phụ cấp, thưởng hoặc các loại trả công khác (như tiền hoa hồng) sau khi trừ đi các khoản thuế thu nhập và bảo hiểm bắt buộc.
Như vậy có thể tiền lương cơ bản hàng tháng thấp nhưng các khoản khác (phụ cấp, thưởng, hoa hồng) cao thì lương thực nhận cũng sẽ cao. Ngoài ra, một số nghiên cứu cho rằng tiền lương có thể được hiểu là khoản tiền mà người lao động nhận được khi họ hoàn thành một công việc nào đó, tất nhiên công việc đó phải được pháp luật cho phép (Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Văn Điềm, 2010); là biểu hiện bằng tiền của bộ phận sản phẩm xã hội mà người lao động được sử dụng để bù đắp hao phí lao động của mình trong quá trình sản xuất nhằm tái sản xuất sức lao động (Võ Văn Nhị, 2010). Kết hợp các quan điểm trên, định nghĩa về tiền lương được sử dụng trong đề tài này như sau: “Tiền lương được hiểu là giá cả sức lao động được hình thành trên cơ sở giá trị sức lao động thông qua sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động, chịu sự chi phối bởi các quy luật kinh tế”. Khái niệm thu nhập Thu nhập có cùng bản chất với tiền lương nhưng được hiểu với nghĩa rộng hơn, thu nhập của một người lao động là tất cả những khoản thu mà người lao động đó nhận 9 được từ việc cung ứng sức lao động của mình, bao gồm cả tiền lương (hay tiền công), tiền thưởng, tiền ăn ca.
Theo từ điển Webser (2014), thu nhập – income là một khoản tiền kiếm được từ công việc, đầu tư, kinh doanh … Theo Tổng Cục Thống Kê (2014), thu nhập của người lao động được định nghĩa như sau: “Thu nhập từ việc làm là khoản tiền công dưới dạng tiền mặt hoặc hiện vật trả cho người làm công ăn lương đối với thời gian hoặc công việc đã làm, cùng với khoản tiền trả cho thời gian không làm việc như nghỉ phép hoặc nghỉ hè hàng năm, nghỉ lễ hoặc các thời gian nghỉ khác được trả lương, bao gồm cả những khoản tiền công khác được nhận thường xuyên có tính chất như lương trước khi người chủ khấu trừ”. Trong cuốn sách “Mác – Ăng Ghen tuyển tập V “ (sản xuất 1983) Cac Mac đã chỉ ra rằng thu nhập lao động theo nghĩa là sản phẩm lao động thì thu nhập tập thể của lao động sẽ có nghĩa là tổng sản phẩm xã hội. Khi thu nhập là giá trị sản phẩm lao động thì giá trị sản phẩm được sản xuất ra trong một thời kỳ nhất định gồm các thành phần C + V +M. Với C là phẩn bù đắp giá trị những tư liệu sản xuất đã tiêu dùng, V là phần thu nhập của người lao động và C là thu nhập của người chủ.
Như vậy thu nhập bao gồm thu nhập của người lao động và người chủ. Tóm lại, thu nhập phản ánh đầy đủ nhất tiền lương của một người lao động, bao gồm tất cả các khoản mà doanh nghiệp trả cho người lao động: tiền lương cơ bản, phụ cấp, thưởng, phúc lợi (bảo hiểm bắt buộc và không bắt buộc, hỗ trợ tiền nhà, xe…) và thuế thu nhập cá nhân (nếu có). Lực lượng lao động và phân loại lực lượng lao động 2. Khái niệm lực lượng lao động Lực lượng lao động theo quan niệm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định, thực tế đang có việc làm và những người thất nghiệp song đang có nhu cầu tìm việc làm.
Lực lượng lao động là những người có việc làm (trong tuổi lao động và trên tuổi lao động) và những người chưa có việc làm nhưng đang tìm việc làm (thất nghiệp). 10 Lực lượng lao động là một bộ phận của nguồn lao động bao gồm những người trong độ tuổi lao động, đang có việc làm và những người chưa có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc.