ĐẶT VẤN ĐỀ Nƣớc sạch và vệ sinh môi trƣờng là nhu cầu thiết yếu của cuộc sống, đã thực sự trở thành vấn đề toàn cầu, thu hút sự quan tâm của toàn nhân loại, đồng thời cũng là vẫn đề cấp thiết của nƣớc ta. Nƣớc sạch và vệ sinh môi trƣờng liên quan đến mọi ngƣời, mọi ngành, mọi vùng miền, nhất là sự phát triển bền vững của đất nƣớc. Sự phong phú và an toàn về nguồn nƣớc chính là thƣớc đo của sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi quốc gia, mỗi khu vực. Trong những năm gần đây, sự gia tăng về dân số, sự tăng trƣởng về kinh tế cùng quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa diễn ra mạnh mẽ đã làm môi trƣờng sống ngày càng suy thoái.
Sử dụng nguồn nƣớc ô nhiễm, không đảm bảo vệ sinh là một yếu tố nguy cơ ảnh hƣởng đến sức khỏe, đặc biệt ở các nƣớc có thu nhập thấp, trong đó có Việt Nam. Báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới, hàng năm có hàng tỷ ngƣời mắc bệnh và hàng triệu ngƣời chết do sử dụng nguồn nƣớc bị ô nhiễm. Chính phủ đã ƣu tiên việc phát triển cấp nƣớc sạch và vệ sinh nông thôn, quyết định đƣa việc giải quyết nƣớc sạch và vệ sinh nông thôn trở thành một trong bảy chƣơng trình mục tiêu quốc gia quan trọng nhất từ năm 2000. Nhiều dự án xây dựng công trình cấp nƣớc sạch và vệ sinh nông thôn do Nhà nƣớc và quốc tế tài trợ đã và đang đƣợc triển khai ở các địa phƣơng.
Mặc dù đã có nhiều địa phƣơng tiến bộ nhanh chóng trong việc cải thiện tình hình cấp nƣớc, vệ sinh môi trƣờng, song cũng còn có rất nhiều nơi còn gặp nhiều khó khăn trong việc giải quyết các vấn đề này. Tình trạng vệ sinh ở các làng xã trên địa bàn nông thôn tồn tại nhiều bất cập, đặc biệt là tập quán sử dụng phân tƣơi trong sản xuất nông nghiệp của ngƣời dân và các hành vi vệ sinh cá nhân chậm thay đổi đã ảnh hƣởng xấu đến môi trƣờng và sự phát triển bền vững ở nông thôn. Tình trạng này là nguyên nhân chính làm cho tỷ lệ mắc bệnh qua nguồn nƣớc và đất bị ô nhiễm rất cao, chi phí khám chữa những bệnh này lên tới hàng trăm tỷ đồng mỗi năm, ảnh hƣởng nghiêm trọng đến không chỉ sức khỏe của nhân dân mà còn có tác động tiêu cực đến sự phát triển chung của toàn xã 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Vấn đề xây dựng công trình cấp nƣớc và vệ sinh đang trở thành một đòi hỏi rất cấp bách và có quy mô rộng lớn trong những năm tới.
Kon Tum là một tỉnh phía bắc của Tây Nguyên với 53,2% dân tộc thiểu số nên điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp, phong tục tập quán lạc hậu, vì vậy việc quản lý vệ sinh môi trƣờng và cung cấp nƣớc sạch còn rất nhiều khó khăn. Tính đến cuối năm 2009, số hộ gia đình có nhà tiêu đạt 55,4%, số hộ sử dụng nguồn nƣớc hợp vệ sinh đạt 70% trong đó chỉ có 30% đạt quy chuẩn Quốc gia. Vấn đề chính quyền và ngành y tế các cấp đặt ra để xây dựng giải pháp can thiệp có hiệu quả, bảo vệ sức khỏe ngƣời dân là: Thực trạng vệ sinh nguồn nƣớc và nhà tiêu hộ gia đình tại một số xã tỉnh Kon Tum nhƣ thế nào? Những yếu tố nào liên quan tới việc ngƣời dân sử dụng nguồn nƣớc và nhà tiêu hợp vệ sinh? Vì vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thực trạng vệ sinh môi trƣờng hộ gia đình tại một số xã tỉnh KonTum” với mục tiêu: (1) Mô tả thực trạng vệ sinh nguồn nước, nhà tiêu hộ gia đình tại một số xã tỉnh Kon Tum. (2) Phân tích một số yếu tố liên quan đến thực hành sử dụng nguồn nước và nhà tiêu hộ gia đình của người dân tại địa bàn nghiên cứu.
2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TÌNH HÌNH CUNG CẤP NƢỚC SẠCH VÀ MỨC ĐỘ Ô NHIỄM NƢỚC SINH HOẠT Ở VIỆT NAM VÀ TRÊN THẾ GIỚI 1. Tình hình cung cấp nƣớc sạch và mức độ ô nhiễm nƣớc trên thế giới Nhân loại đang đứng trƣớc những triển vọng phát triển to lớn do tiến bộ khoa học và công nghệ mang lại, mặt khác lại phải đƣơng đầu với những vấn đề về tài nguyên thiên nhiên và môi trƣờng trong đó thiếu nƣớc ngọt là một trong những vấn đề đáng quan tâm nhất.
Liên Hiệp quốc đã nhận định rằng: Trên thế giới thƣờng xuyên có khoảng 2 tỷ ngƣời đang khát nƣớc, trong khoảng thời gian 8 phút lại có 1 bé chết vì các bệnh liên quan đến nƣớc [23]. Khả năng tiếp cận với nƣớc sinh hoạt là nhu cầu căn bản nhất của con ngƣời và là trọng tâm của các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ. Tuy nhiên, gần 1,1 tỷ ngƣời không đƣợc tiếp cận với nguồn cung cấp nƣớc sạch và đại bộ phận trong số này đang sống ở các nƣớc đang phát triển. Hệ thống quản lý nƣớc yếu kém khiến cho việc thiếu nƣớc sạch trở thành một trong những nguyên nhân gây tử vong trên thế giới ngày nay.
Liên Hiệp quốc cho rằng vào năm 2020, lƣợng nƣớc cung cấp cho mỗi ngƣời trên thế giới giảm 1/3 so với hiện nay. Cuộc khủng hoảng này ngày càng trở nên tồi tệ hơn do các chính phủ chƣa ý thức đƣợc vấn đề và không hành động [73]. Hội đồng Thế giới về nƣớc (WWC) cho rằng sự gia tăng dân số, tình trạng đô thị hoá nhanh, ô nhiễm môi trƣờng, nạn phá rừng bừa bãi, đất đai bị thoái hoá và thiếu chính sách bảo vệ nguồn nƣớc là những nguyên nhân đang làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá này [46]. Diễn đàn thế giới về nƣớc lần thứ 4 diễn ra tại thủ đô Mexico có sự tham gia của hơn 11.000 đại biểu đến từ 130 nƣớc, đã cảnh báo tình trạng thiếu nƣớc nghiêm trọng trên phạm vi toàn cầu.
Báo cáo về nguồn nƣớc toàn cầu công bố nhân Ngày nƣớc thế giới hàng năm (22/3), cho biết hiện nay có tới 16% dân số thế giới không 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đƣợc dùng nƣớc sạch, 2,6 tỷ ngƣời chiếm 49% dân số thế giới không đƣợc hƣởng các điều kiện vệ sinh tối thiểu, trong đó hơn 50% sống ở Trung Quốc và Ấn Độ. Chỉ có 12% số nƣớc phát triển có hệ thống quản lý nguồn nƣớc hiệu quả, trong khi nhiều khu vực trên thế giới có tới 40% nguồn nƣớc bị lãng phí, hoặc bị khai thác bừa bãi, gây ô nhiễm [46]. Trƣớc tình trạng sử dụng nguồn nƣớc lãng phí nhƣ hiện nay, “Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ” do Liên Hiệp quốc đề ra giảm 50% số ngƣời không đƣợc sử dụng nƣớc sạch và các điều kiện vệ sinh tối thiểu vào năm 2015 là không thể thực hiện đƣợc [73]. Chất lƣợng nƣớc ở khu vực Đông Nam Á ngày càng trở thành mối đe dọa lớn.
Tình trạng ô nhiễm Asen (thạch tín) và flor trong các mạch nƣớc ngầm đang đe dọa nghiêm trọng tình trạng sức khỏe của 50 triệu ngƣời dân trong khu vực [58], [62]. Một số chuyên gia về nƣớc sạch và vệ sinh môi trƣờng (VSMT) cho biết, cứ 1m3 nƣớc bị ô nhiễm sẽ làm cho 50-60 m3 nƣớc ngọt khác không sử dụng đƣợc. Trên thế giới hiện nay, mỗi năm có tới 5.000 km3 nƣớc bị ô nhiễm phát thải vào các nguồn nƣớc tự nhiên, chính điều đó làm cho 2 tỷ ngƣời thiếu nƣớc ngọt hợp vệ sinh [23]. Hiện nay, nhiều nƣớc xung quanh ta đang quan tâm đến vấn đề nhiễm độc thạch tín ở các nguồn nƣớc ngầm.
Hàm lƣợng thạch tín cao hơn mức cho phép nhiều lần đƣợc phát hiện trong các giếng khoan ở Bangladesh, Ấn Độ và Trung Quốc. Ngƣời ta báo cáo các trƣờng hợp ung thƣ da, tổn hại da, tổn thƣơng thần kinh và mạch máu ngoại vi ở những quần thể dân cƣ dùng nƣớc giếng khoan bị nhiễm thạch tín [7], [61], [62]. Một nghiên cứu khác ở Trung Quốc chỉ rõ có 522.566 ngƣời sử dụng nƣớc uống có asen cao hơn 0,05 mg/l [64]. Thực trạng ô nhiễm asen lan rộng đã ảnh hƣởng đến sức khoẻ hàng triệu ngƣời tại Bangladesh.
Các cƣ dân ở Matlab của Bangladesh đang có nguy cơ bị nhiễm độc asen. Kết quả điều tra cho thấy, việc thiếu các điều kiện thuận lợi để thực 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hiện đảm bảo an toàn nƣớc dùng cho ăn uống đã buộc ngƣời dân phải tiếp tục sử dụng nguồn nƣớc ô nhiễm asen [60]. Chƣơng trình giảm ô nhiễm asen và cung cấp nƣớc sạch ở Bangladesh đã triển khai nghiên cứu ở nguồn nƣớc ngầm với test thử cho gần 5000 giếng. Kết quả dựa vào sự nhiễm asen, ngƣời ta vẽ đƣợc bản đồ địa lý về sự phân bố nhiễm asen trong nƣớc ngầm bằng kỹ thuật mobile-phone ở Araihaza.
Dựa vào bản đồ đó ngƣời ta hƣớng dẫn rất nhiều ngƣời dân ở các làng tại Araihaza sử dụng các giếng an toàn về asen [71]. Thực trạng cung cấp nƣớc và chất lƣợng nƣớc ở Việt Nam Năm 1988, cùng với “thập kỷ nƣớc uống” trong chƣơng trình hành động của Liên Hiệp quốc, Việt Nam cũng bắt đầu triển khai chƣơng trình quốc gia cung cấp nƣớc sạch và vệ sinh môi trƣờng. Từ đó, nhiều nguồn nƣớc đảm bảo vệ sinh đƣợc đƣa vào sử dụng, giải quyết nguồn nƣớc sạch cho hàng chục triệu ngƣời. Chƣơng trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG) về cung cấp nƣớc sạch và VSMT nông thôn đến năm 2010 đã đƣợc Chính phủ phê duyệt, theo đó 85% dân số nông thôn sẽ đƣợc sử dụng nƣớc sạch trong ăn uống và sinh hoạt [5], [42].
Ở Việt Nam, trong điều kiện đất nƣớc còn nhiều khó khăn, dân số tăng nhanh cùng với sự phát triển của nhiều ngành sản xuất, môi trƣờng nói chung và nguồn nƣớc nói riêng ngày càng ô nhiễm nghiêm trọng. Theo Lê Thế Thự (1995), chỉ có 25,7% dân số Đồng bằng sông Cửu Long đƣợc sử dụng nƣớc sạch [52]. Theo Tôn Thất Bách và cộng sự (1996), ở Đồng bằng sông Hồng tỷ lệ sử dụng giếng khơi là 42%, nƣớc mặt là 39,4%. Vùng ven biển sử dụng nƣớc mƣa là 83,4% [19].
Theo số liệu của Cục Y tế Dự phòng Việt Nam - Bộ Y tế (2007), toàn quốc chỉ có khoảng 60-70% dân số đƣợc sử dụng nƣớc sạch [13]. Theo Viện Y học Lao động và Vệ sinh Môi trƣờng, tỷ lệ nhiễm bẩn nguồn nƣớc sinh hoạt ở vùng nông thôn khá cao, khoảng trên 50% số mẫu phân tích không đạt tiêu chuẩn về mặt lý học, tƣơng tự 14% về mặt hoá học và 89% về mặt vi sinh vật.