Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một sô đặc điểm chung về ò nhiễm môi trường sinh hoạt ở nông thôn hiện nay và ảnh hưởng của nó đến sức khoẻ. Trong những năm qua, kinh tế nông nghiệp và cuộc sống nông thôn có những bước phát triển đáng kể. Nhiều ngành nghề sản xuất qui mô nhỏ và vừa đang được khôi phục và phát triển.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của sản xuất nông nghiệp cũng như tiểu thủ công nghiệp, nhiều vấn đề môi trường đang đặt ra đòi hỏi phải được quan tâm xem xét. Đó là tình trạng ô nhiễm ngày càng tăng do hoá chất bảo vê thực vật, do các chất thải từ cơ sở sản xuất, dịch vụ, vấn đề VSMT và đảm bảo nước sạch cho nhân dân. • 0 nhiễm do lạm dụng hoá chất bảo vê thực vật đang đặt ra nhiều vấn đề về môi trường và sức khoẻ ở nông thôn [61]. • 0 nhiễm do các cơ sở tiểu thủ công nghiệp.
Những nãm gần đây, nhiều ngành nghề truyền thống ở các vùng nông thôn đã được khôi phục và phát triển. Phương thức và công cụ sản xuất của các làng nghề nói chung còn thô sơ lạc hâu. Một sô' ngành như đúc, dệt, nhuộm, chế biến lương thực, v.thải ra nhiều chất độc hại không được xử lý đã gây ô nhiễm môi trường cục bộ, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người lao động. Xung quanh các cơ sở sản xuất này, các tầng nước mặt, hồ ao và nưóc ngầm tầng nông đều bị ô nhiễm nghiêm trọng [61].
• Đảm bảo nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn Tỷ lệ trung bình sô' dân được sử dụng nưóc sạch trên cả nước vẫn còn thấp, mới đạt 25% (tính đến năm 1995) [61]. Môi trường sống, môi trường lao động của nhân dân ta bị ô nhiễm nghiêm trọng, quản lý phân người, phân gia súc còn yếu, tập quán sử dụng phân tươi nuôi cá, bón hoa màu vẫn còn tổn tại [36]. Sự phát triển sản xuất nông nghiệp, công nghiệp hoá và hiện đại hoá nền kinh tê' nông nghiệp, cũng tạo ra nguồn nước thải lớn bị ô nhiễm bởi nhiều hoá chất độc hại: các loại hoá chất bảo vệ thực vật, phân bón hoá học, chãn nuôi cũng là nguồn nước thải lớn. 5 Một tổ hợp chăn nuôi gia súc 10.000 con gây ô nhiễm môi trường ở mức độ như một thành phố 200.
Nước sạch và vệ sinh môi trường được đặt trong tổng thể ba vấn đề cơ bản của quốc gia đó là: Phát triển - Môi trường - Dân số [36]. Những nãm gần đây đã có nhiều nghiên cứu về tình trạng ô nhiễm môi trường và mối liên quan đến sức khoẻ, bệnh tật của con người. Các nghiên cứu trong và ngoài nước đã làm sáng tỏ tác hại của môi trường lên sức khoẻ. Một sô nghiên cứu về vệ sinh môi trường trên Thê giới Chương trình liên hiệp quốc về môi trường (UNEP) nghiên cứu ở các nước khu vực châu Á - Thái Bình Dương (1993) cho biết: Tại Bangkok (Thái Lan) tình trạng bụi kèm theo mức độ ô nhiễm nặng làm tổn thương đường hô hấp và ung thư tăng cao (900.000 ca bệnh tổn thương đường hô hấp trong năm); Tại Ân Độ: lao phổi và bệnh đường hô hấp là nguyên nhân gây tử vong cao nhất ở Bom Bay, 60% số người nội thị cư trú thường xuyên tại Calcutta bị các bệnh về đường hô hấp [69].
(1994), người nghèo ở đô thị Nam Á bị tác động nhiều nhất về sức khoẻ do phải làm việc trong môi trường lao động bị ô nhiễm (các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ), phải sống ở nơi bị ô nhiễm nặng nề bởi chất độc hại của các khu công nghiệp và thiếu chăm sóc y tế, thiếu các dịch vụ cơ bản như cấp nước, các công trình vệ sinh. Tác giả thấy rằng ở các nước này, môi trường tác hại lên sức khoẻ trầm trọng hơn so với các nước phương Bắc và chưa có biện pháp nào để giải quyết cả tuyến trung ương lẫn địa phương [63]. Một số nghiên cứu gần đây (1999) của một số tác giả cho thấy: tiếp xúc với những hạt bụi lơ lửng trong không khí, SO2 và NO2 làm tăng hơn ba lần các triệu chứng hô hấp mãn tính không đặc hiệu và ảnh hưởng đến sức khoẻ của trẻ em sẵn có bệnh phổi [65]. (1992), nguyên nhân gây ÔNKK quan trọng nhất của đô thị các nước đang phát triển là khí thải của các nhà máy, xí nghiệp, giao thông vận tải và đun nấu gia đình.
Nồng độ các chất: SO2, co, NO, bụi lơ lửng có thể đạt tới nồng độ đậm đặc, làm gia tăng bệnh viêm phế quản, khí thũng phổi, ung thu phổi, 6 đặc biệt với người nghèo phải sống gần nguồn ô nhiễm (nhà máy, bãi thải) và phải tiếp xúc trực tiếp với mức độ độc hại cao [30]. Tại Trung Quốc (1993) nhóm các tác giả nghiên cứu 150 trẻ từ 10 - 15 tuổi thuộc 4 thành phố của Trung Quốc cho thấy các chất gây ô nhiễm (chủ yếu do đốt than) đã tác động rõ rệt lên tổn thương đường hô hấp của trẻ em ở trong vùng. Cụ thể ở thành phô' Thượng Hải, nơi có nồng độ khí ô nhiễm SO2, co, NO2 cao nhất thì có tổn thương đường hô hấp là cao nhất: viêm khí phế quản 21,9%, viêm hầu họng 15,4%, viêm amidan 16,7%, hen phế quản 1,6%, viêm họng 29,6%, chảy nước mũi 10,9%. ở các thành phố khác, nồng độ chất ô nhiễm thấp hơn nên tỷ lệ mắc các tổn thương đường hô hấp cũng thấp hơn, tuy nhiên sự khác biệt chưa rõ rệt [66].
Trong một nghiên cứu về vai trò của đô thị hoá và ÔNKK trong bệnh hen của trẻ vị thành niên ở Đài Loan cho thấy: hen ở trẻ vị thành niên Đài Loan có tỷ lê cao nhất ở vùng đô thị hoá nhiều hơn (11,2%), tiếp theo là những vùng đô thị hoá vừa phải (7,4%) và những vùng đô thị hoá ít và vùng nông thôn (6,5%). Nghiên cứu cho thấy rằng mức độ ô nhiễm cao của khu vực có liên quan đến tỷ lệ mắc bênh hen cao hơn ở trẻ vị thành niên [64], Một nghiên cứu theo dõi 2 xã nông thôn thuộc bang Chiapas, Mexico, so sánh gia đình dùng bếp lò cải tiến để nấu ăn với những gia đình dùng bếp lửa truyền thống, để đánh giá nguy cơ bị các triệu chứng hô hấp ở trẻ em và phụ nữ phải hít khói củi cho thấy việc dùng củi nhiều hơn làm tăng nguy cơ khó thở ở phụ nữ. Dùng bếp cần ít củi để nấu ăn làm giảm các nguy cơ bị các triệu chứng hô hấp có thể góp phần gây các bệnh hô hấp phức tạp và tử vong [67]. Nước cho sinh hoạt chiếm khoảng 6% tổng lượng nước chi dùng trên thế giới.
Tuy vậy nhu cầu sử dụng nước cho sinh hoạt ngày càng tăng. Một sô' nghiên cứu cho thấy rằng, so với 30 nãm trước, lượng nước ngầm ngày nay được sử dụng tăng hơn 35 lần. Tuy nhiên, mối đe doạ về giảm chất lượng nước nghiêm trọng hơn mối đe doạ thiết hụt nước [68]. Nghiên cứu của Baltazar và cộng sự tại Cebu, Phillipin đã chứng minh việc cung cấp nước sạch và hành vi vệ sinh có thể giảm tỷ lệ mắc tiêu chảy khoảng 20% nhập viện và giảm 40% tiêu chảy có nguyên nhân [62].
7 Một báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) nãm 1993 cho thấy việc cấp nưóc an toàn vể chất lượng nước có một ý nghĩa quan trọng, nó có thể làm giảm 50% số tử vong ở trẻ em và làm giảm 25% các trường hợp tiêu chảy [70]. Cũng theo thống kê của WHO và quỹ Nhi đồng liên hiệp quốc (UNICEF) nãm 1993 có 61% dân số sống ở nông thôn và 26% dân sô' sống ở thành thị của các nước đang phát triển không được cung cấp nước sạch, điều đó gây nguy cơ nghiêm trọng cho sức khoẻ [70]. Qua phân tích mẫu nước tại 20 điểm của 18 con sông ở Kanagawa, Nhật Bản, từ năm 1987 - 1995 cho thấy 64,7% mẫu nhiễm V. Ở Nga, 96 mẫu xét nghiêm nước ở sông Cama có chỉ số E.
Coli 102 - 104/100ml nước [3], [71 ]. Tinh hình phát triển và xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh của nước ta theo đánh giá của WHO/UNICEF (1993) là 17,36% dân số. Tỷ lệ này xấp xì với Ấn Độ: 16,20%, thấp hơn so với Lào: 20,94%. Tuy nhiên nếu chỉ tính riêng cho nông thôn, tỷ lê này mới chỉ đạt được 13,17% và cũng còn cao hơn một sô' nước khác.
Sự phấn đấu của mỗi nước có khác nhau, tại Bangladesh năm 1975 là 1,7%, sau 13 nãm (1988), tăng lên là 23% dân sồ' sử dụng nhà tiêu hợp vê sinh [70]. Một số nghiên cứu ở Việt Nam Lương Sĩ Cần, Trần Công Hoà, Nguyên Hoàng Sơn (1994) đã nghiên cứu trẻ em từ 1 đến 13 tuổi ở 17 tỉnh, thành đại diện cho 4 vùng: miền núi, miền biển, miền đồng bằng và thành phô' thấy tỷ lê bệnh hô hấp trên khác nhau ở từng khu vực: thành phố: 87,65%; miền núi: 61,48%. Đun bằng than và dẩu gây ô nhiễm môi trường làm tăng sô' trẻ bị nhiễm khuẩn đường hô hấp trên: 87,76% và 94,73%. Đun điện không gây ô nhiễm [13].
Chu Văn Thăng (1995) khi nghiên cứu tác động của vùng ÔNKK cực đại đến sức khoẻ dân cư vùng tiếp giáp khu công nghiệp Thượng Đình, Hà Nội thấy nồng độ khí so2 tăng 3,2 đến 6,8 lần TCCP; tổn thương đường hô hấp trẻ em tăng 3,74 đến 5,52 lần so với nhóm chứng [42]. Những năm gần đây nhiều nhà nghiên cứu đã quan tâm đến tình trạng ô nhiễm môi trường và mối liên quan đến sức khoẻ bệnh tật của con người cũng như 8 tìm kiếm các giải pháp nhằm hạn chế tác hại của môi trường lên sức khoẻ của người dân tại các vùng sinh thái khác nhau. Nghiên cứu của Lê Thế Thự (1995), cho rằng nếu sử dụng phong phú nguồn nước an toàn hay nói cách khác, số lượng và chất lượng nguồn nước được cải thiện tốt hon thì tỷ lệ mắc các bệnh do nước và phân truyền; tiêu chảy, thưcng hàn, tả, lỵ sẽ giảm đi rõ rệt [46]. Nghiên cứu nguy cơ gây nhiễm bẩn đối với giếng khoan, giếng khơi ở nông thôn Thái Bình, Đỗ Quốc Thái (1995) cho rằng nguồn nhiễm bẩn nguy hiểm và phổ biến nhất là nhiễm bẩn bởi phân, trong đó nước giếng khơi có nguy cơ cao hơn cả [39].