Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Thúy (ngành Môi trường, Khoa Môi trường, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, năm 2014) giải quyết vấn đề ô nhiễm kim loại nặng trong đất sản xuất nông nghiệp bắt nguồn từ hoạt động của làng nghề tái chế kim loại thủ công. Địa bàn nghiên cứu thực địa là thôn Đông Mai, xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên – một điểm nóng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng tại miền Bắc.

Bối cảnh thực tiễn được văn bản ghi nhận như sau:

  • Hoạt động tái chế chì từ bình ắc quy phế thải tại thôn Đông Mai diễn ra chủ yếu bằng phương pháp thủ công qua các công đoạn: phá dỡ bình lấy lõi chì, xả trực tiếp dung dịch axit chứa chì ra cống rãnh, kênh mương; nung nấu bản cực chì bằng than cốc trong lò hỏa luyện mà không có hệ thống xử lý khí thải.
  • Tình trạng ô nhiễm kim loại nặng tại Đông Mai ở mức báo động: nồng độ chì trung bình trong nước mặt đạt 0,77 mg/l (vượt tiêu chuẩn cho phép từ 7,7 đến 15 lần); tại các ao hồ đãi và đổ xỉ đạt 3,278 mg/l (vượt 32 đến 65 lần); hàm lượng chì trong đất trung bình là 398,72 mg/kg; nồng độ chì trong không khí dao động từ 26,332 đến 46,414 mg/m³, gấp 4.600 lần tiêu chuẩn cho phép.
  • Tác động sức khỏe: hơn 80% người dân thôn Đông Mai mắc bệnh; 100% người trực tiếp tham gia nấu chì bị nhiễm độc chì trong máu. Hàm lượng chì đo được trong nước tiểu người dân từ 0,25 đến 0,56 mg/l; trong máu đạt 135 mg/l (vượt 1,5 lần mức cho phép theo số liệu của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2012).
  • Mặc dù Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 64/2003/QĐ-TTg yêu cầu hoàn thành xử lý ô nhiễm và di dời lò đúc chì trước năm 2007, đồng thời tỉnh Hưng Yên đã phê duyệt dự án Cụm công nghiệp Đông Mai quy mô 21 ha từ đầu năm 2011, tính đến hết năm 2013 trên địa bàn thôn vẫn còn khoảng 27 hộ duy trì tái chế chì ngay trong khu dân cư.

Xuất phát từ thực tế các biện pháp xử lý cơ học và hóa lý thường tốn kém chi phí, tác giả lựa chọn phương pháp sinh học (Phytoremediation) kết hợp nấm rễ nội cộng sinh (AMF - Arbuscular Mycorrhizal Fungi) nhằm khắc phục nhược điểm sinh khối thấp của các loài cây siêu tích lũy kim loại.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:

  1. Tìm hiểu một số tính chất đất của khu vực nghiên cứu.
  2. Đánh giá khả năng chống chịu và hấp thu Pb của cây dương xỉ cộng sinh với nấm rễ AMF trong điều kiện thí nghiệm chậu vại.

Nhiệm vụ và yêu cầu nghiên cứu:

  1. Xác định được một số chỉ tiêu lí hóa học của đất tại khu vực nghiên cứu.
  2. Tiến hành thí nghiệm chậu vại để đánh giá ảnh hưởng của chế phẩm nấm rễ cộng sinh đến sự chống chịu, hấp thu chì của cây dương xỉ.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Mẫu đất lấy tại cánh đồng Hè, thôn Đông Mai, xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên; loài dương xỉ bản địa (Pteris vittata L.) thu thập tại địa phương; chế phẩm nấm rễ Mycoroot do Công ty TNHH Thời đại xanh (Khu Công nghệ Cao, Quận 9, TP. Hồ Chí Minh) sản xuất.
  • Phạm vi không gian: Thôn Đông Mai, xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên (khảo sát hiện trường và thu mẫu đất) và khu thí nghiệm nhà lưới Khoa Môi trường, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội (bố trí thí nghiệm chậu vại).
  • Phạm vi thời gian: Từ ngày 15/01/2014 đến ngày 29/04/2014.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung đánh giá mối quan hệ cộng sinh giữa dương xỉ bản địa với nấm rễ AMF đối với khả năng chống chịu và hấp thu kim loại chì (Pb) trong đất.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận theo hướng công nghệ sinh học môi trường, kết hợp phân tích thổ nhưỡng với thực nghiệm sinh lý thực vật học.

Khung lý thuyết và mô hình sử dụng

  • Công nghệ xử lý môi trường bằng thực vật (Phytoremediation): Khóa luận phân loại thành 5 công nghệ thành phần gồm: cố định chất ô nhiễm bằng thực vật (Phytostabilization), chuyển dạng chất ô nhiễm (Phytotransformation), thoát hơi qua lá cây (Phytovolatilization), chiết đất bằng thực vật (Phytoextraction), và xử lý sinh học vùng rễ (Rhizosphere Bioremediation).
  • Các giả thuyết cơ chế: Giả thuyết hình thành phức hợp hữu cơ - kim loại bền vững lưu giữ tại không bào và thành tế bào; giả thuyết lắng đọng và đào thải qua biểu bì, lá khô; cơ chế hấp thụ thụ động; phản ứng chống stress sinh học/phi sinh học; và các biến đổi sinh hóa tại vùng quyển rễ.
  • Vai trò của nấm rễ AMF: Nấm rễ cộng sinh hình thành mạng lưới sợi nấm giúp mở rộng vùng hấp thu dinh dưỡng khoáng cho cây, kích hoạt cơ chế đề kháng kim loại nặng và hỗ trợ cây duy trì sinh khối trong điều kiện đất bị ô nhiễm khắc nghiệt.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

  • Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập số liệu thống kê tự nhiên, kinh tế - xã hội và hiện trạng làng nghề từ Ủy ban nhân dân xã Chỉ Đạo; kế thừa các công trình nghiên cứu về xử lý kim loại nặng của các tác giả trong và ngoài nước.
  • Phương pháp lấy mẫu đất: Tiến hành theo tiêu chuẩn TCVN 4046:1985 (Đất trồng trọt - Phương pháp lấy mẫu) và TCVN 5297:1995 (Chất lượng đất - Lấy mẫu - Yêu cầu chung).
  • Bố trí thí nghiệm chậu vại: Thí nghiệm tiến hành trong điều kiện nhà lưới tại Khoa Môi trường, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội. Đất thí nghiệm là hỗn hợp đất thực địa và cát theo tỷ lệ khối lượng 3:1, đã được khử trùng nhiệt ẩm ở 121°C trong 2 giờ nhằm loại bỏ vi sinh vật đối kháng ban đầu. Chậu nhựa được khử trùng bằng cồn 70°, mỗi chậu chứa 3 kg hỗn hợp, mật độ trồng 4 cây/chậu. Thí nghiệm gồm 4 công thức với 3 lần nhắc lại:
    • Công thức 1 (CT1): Trồng dương xỉ đối chứng (không bón chế phẩm).
    • Công thức 2 (CT2): Trồng dương xỉ + bón 20 g chế phẩm Mycoroot/cây.
    • Công thức 3 (CT3): Trồng dương xỉ + bón 40 g chế phẩm Mycoroot/cây.
    • Công thức 4 (CT4): Trồng dương xỉ + bón 80 g chế phẩm Mycoroot/cây.

Phương pháp phân tích phòng thí nghiệm

  • Kiểm tra chất lượng chế phẩm nấm: Cân 1 g Mycoroot hòa tan trong nước, lọc qua rây, thu nhận bào tử trên mặt rây vào hộp petri bằng bình tia nước cất và đếm mật độ bào tử dưới kính hiển vi soi nổi.
  • Đánh giá sự xâm nhiễm rễ: Lấy 1 g mẫu rễ dương xỉ ở mỗi chậu sau 40 ngày trồng, rửa sạch bằng dung dịch KOH 10%, nhuộm màu bằng xanh Trypan 0,05% trong lactophenol và quan sát cấu trúc sợi nấm/túi nấm dưới kính hiển vi.
  • Phân tích chỉ tiêu đất:
    • pH_KCl đo bằng máy đo pH (pH meter).
    • Thành phần cơ giới xác định theo phương pháp pipet (ống hút Robinson).
    • Dung tích trao đổi cation (CEC) xác định bằng phương pháp amoni axetat.
    • Hàm lượng chất hữu cơ (OM%) xác định theo phương pháp Walkley - Black.
    • Pb tổng số: Phá mẫu bằng dung dịch cường thủy (hỗn hợp axit HCl và HNO₃ theo tỷ lệ thể tích 3:1), đo phổ hấp thụ nguyên tử ngọn lửa (AAS).
    • Pb dễ tiêu (linh động): Chiết rút bằng dung dịch HCl 0,1 M và đo trên máy AAS.
  • Phân tích mẫu thực vật: Cây sau 40 ngày thu hoạch được rửa sạch, tách riêng thân lá và rễ để cân khối lượng tươi; sấy khô ở 70°C đến khối lượng không đổi để xác định sinh khối khô (SKK); nghiền mịn mẫu, cân 0,5 g đem nung ở 550°C trong 4 giờ; hòa tan tro bằng 5 ml HCl 6 N đun sôi 15 phút, định mức lên 50 ml bằng nước cất và đo hàm lượng Pb bằng máy AAS.
  • Công thức tính lượng Pb loại bỏ: Lượng Pb cây lấy đi khỏi đất (mg Pb/chậu) = $(a \times x) / 1000$, trong đó $a$ là hàm lượng Pb tích lũy trong bộ phận cây (mg Pb/kg SKK) và $x$ là sinh khối khô trung bình của chậu (g SKK/chậu).
  • Xử lý số liệu và quy chuẩn so sánh: Số liệu được tính toán và xử lý thống kê bằng phần mềm Microsoft Excel và IRRISTAT; kết quả phân tích đất được so sánh trực tiếp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 03:2008/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về giới hạn kim loại nặng trong đất).

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Đặt vấn đề

Phần này trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ hiểm họa ô nhiễm kim loại nặng nói chung và ô nhiễm chì tại làng nghề đúc, tái chế chì thôn Đông Mai nói riêng. Tác giả chỉ rõ các con đường xâm nhập của chì vào môi trường sống và cơ thể người, phân tích ưu điểm của công nghệ thực vật kết hợp vi sinh vật bản địa, từ đó xác định rõ 2 mục tiêu và 2 yêu cầu cụ thể cần giải quyết trong khóa luận.

Phần 2: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

Chương tổng quan tập hợp các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về hiện trạng ô nhiễm kim loại nặng và khả năng cải tạo đất của thực vật:

  • Ô nhiễm kim loại nặng trên thế giới: Nêu các nghiên cứu điển hình như ô nhiễm Cd tại lòng chảo Huay Mae Tao (Thái Lan) do Viện Quản lý Nước Quốc tế (IWMI) khảo sát; ô nhiễm As, Pb, Zn tại mỏ hoang Songcheon (Hàn Quốc) theo công bố của H.S. Lim (2004); ô nhiễm chì tại La Oroya (Peru); và tình trạng ô nhiễm đất nông nghiệp tại Trung Quốc qua cảnh báo của Đổng Tiềm Minh khi 1/5 diện tích canh tác bị nhiễm kim loại nặng do lạm dụng 1,3 triệu tấn nông dược/năm.
  • Ô nhiễm kim loại nặng tại Việt Nam: Dẫn chứng dữ liệu ô nhiễm tại các vùng mỏ khoáng sản như mỏ thiếc Sơn Dương (Tuyên Quang) với hàm lượng As đạt 642 mg/kg (gấp gần 54 lần QCVN 03:2008); mỏ than Núi Hồng, mỏ sắt Trại Cau, mỏ thiếc Núi Pháo và mỏ chì kẽm Làng Hích (Thái Nguyên) theo các công trình của Đặng Thị An (2008) và Lương Thị Thúy Vân (2012). Tại huyện Văn Lâm (Hưng Yên), dẫn liệu từ Cao Việt Hà (2012), Phan Quốc Hưng (2010), Lê Đức và Lê Văn Khoa (2001), Hồ Thị Lam Trà (2009) khẳng định đất nông nghiệp quanh các làng nghề đúc đồng Đại Đồng và tái chế chì Đông Mai có hàm lượng Cu, Pb vượt chuẩn nhiều lần.
  • Tiềm năng của các loài thực vật: Tổng kết hiệu quả hấp thu kim loại của cây cải xoong (Thlaspi caerulescens), cỏ Vetiver (Vetiveria zizanioides), cây dương xỉ (Pteris vittata, Pityrogramma calomelanos), cây đơn buốt (Bidens pilosa), mương đứng (Ludwigia prostrata), dừa nước, cây hoa thơm ổi và cỏ mần trầu. Điểm nhấn là khả năng siêu tích lũy As của loài Pteris vittata L. qua các nghiên cứu của Bùi Thị Kim Anh (2008, 2011) và Ma L.Q.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày cụ thể xuất xứ các mẫu đất tại cánh đồng Hè thôn Đông Mai, mẫu cây dương xỉ Pteris vittata L. bản địa và nguồn gốc chế phẩm nấm rễ thương mại Mycoroot. Xác lập chi tiết quy trình bố trí 4 công thức thí nghiệm chậu vại (0, 20, 40, 80 g Mycoroot/cây) với 3 lần nhắc lại trong nhà lưới. Mô tả chuẩn hóa các thao tác thực nghiệm từ khâu chuẩn bị cơ chất đất - cát (tỷ lệ 3:1, sấy khử trùng 121°C), phương pháp nhuộm xanh Trypan kiểm tra xâm nhiễm nấm, quy trình phân hủy mẫu đất bằng cường thủy, tro hóa mẫu thực vật ở 550°C và kỹ thuật đo quang phổ hấp thụ nguyên tử AAS.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu

Nội dung chương 4 phản ánh các kết quả khảo sát thực địa và phân tích trong phòng thí nghiệm:

  • Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và hiện trạng làng nghề xã Chỉ Đạo: Xã có diện tích tự nhiên 597,1 ha (đất canh tác 360,49 ha), dân số 8.473 người; kinh tế phụ thuộc vào nông nghiệp (chiếm 50,5%) và tiểu thủ công nghiệp (32,5% với 185 hộ làm nghề tái chế, cơ khí). Hoạt động tháo dỡ ắc quy lấy bản cực chì và nấu chì thủ công bằng lò than cốc tại thôn Đông Mai phát thải lượng lớn bụi chì, hơi axit và xỉ thải trực tiếp ra môi trường xung quanh mà không qua xử lý.
  • Một số tính chất lý hóa học của đất nghiên cứu: Cung cấp số liệu phân tích đất cánh đồng Hè thôn Đông Mai:
    • Thành phần cấp hạt: Cát đạt 42,2%, Limon đạt 45,1%, Sét đạt 12,7%; theo phân loại tam giác thành phần cơ giới của USDA, đất thuộc nhóm đất thịt.
    • Độ chua: $pH_{KCl}$ đạt 4,3, thuộc nhóm đất rất chua. Nguyên nhân do đất tiếp nhận nước thải axit rò rỉ từ bình ắc quy phế thải và dư lượng phân bón hóa học có tính axit trong canh tác.
    • Hàm lượng chất hữu cơ (OM): Đạt 3,03%, thuộc nhóm đất có hàm lượng mùn/chất hữu cơ trung bình.
    • Dung tích hấp thụ trao đổi cation (CEC): Đạt 13,2 lđl/100g đất, ở mức trung bình, phù hợp với đặc tính phù sa sông Hồng.
    • Hàm lượng chì: Hàm lượng Pb tổng số lên tới 2622,14 mg/kg đất khô, vượt 37,45 lần ngưỡng giới hạn của QCVN 03:2008/BTNMT đối với đất sản xuất nông nghiệp (70 mg/kg). Hàm lượng Pb dễ tiêu (dạng linh động) đạt tới 378,20 mg/kg đất khô, là mối đe dọa trực tiếp đến cây trồng và nguồn nước ngầm.
  • Các nội dung thực nghiệm tiếp theo: Đánh giá chất lượng chế phẩm Mycoroot (mật độ bào tử), tỷ lệ xâm nhiễm nấm rễ AMF vào hệ rễ cây sau 40 ngày, sự sinh trưởng sinh khối tươi và sinh khối khô, hàm lượng Pb tích lũy trong rễ và thân lá, tổng lượng chì được dương xỉ đào thải khỏi đất và hàm lượng chì còn lại trong đất sau khi thu hoạch.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết các kết quả đạt được về đặc tính thổ nhưỡng và mức độ ô nhiễm chì tại cánh đồng Hè; khẳng định vai trò của nấm rễ AMF trong việc kích thích sinh trưởng và nâng cao hiệu suất hấp thu kim loại nặng của cây dương xỉ. Đưa ra các kiến nghị về việc áp dụng mô hình thực vật tại thực địa và tăng cường các giải pháp quản lý làng nghề tại địa phương.


Kết quả và đóng góp

Khóa luận cung cấp các dẫn liệu định lượng về thổ nhưỡng và khả năng tích lũy chì của thực vật tại địa bàn nghiên cứu:

TT Chỉ tiêu phân tích Đơn vị Giá trị thực nghiệm Ngưỡng so sánh (QCVN 03:2008/BTNMT) Đánh giá phân loại thổ nhưỡng
1 $pH_{KCl}$ - 4,3 - Đất rất chua
2 Chất hữu cơ (OM) % 3,03 - Trung bình (theo W. Siderius)
3 Dung tích trao đổi cation (CEC) lđl/100g đất 13,2 - Trung bình (đặc trưng phù sa sông Hồng)
4 Cấp hạt Cát % 42,2 - Đất thịt (theo phân loại USDA)
5 Cấp hạt Limon % 45,1 - Đất thịt (theo phân loại USDA)
6 Cấp hạt Sét % 12,7 - Đất thịt (theo phân loại USDA)
7 Chì tổng số (Pb tổng số) mg/kg đất khô 2622,14 70 Vượt tiêu chuẩn cho phép 37,45 lần
8 Chì dễ tiêu (Pb linh động) mg/kg đất khô 378,20 - Hàm lượng rất cao, linh động mạnh

Đóng góp về mặt học thuật và thực tiễn:

  • Chứng minh bằng thực nghiệm mức độ ô nhiễm chì cực kỳ nghiêm trọng tại đất sản xuất nông nghiệp khu vực cánh đồng Hè thôn Đông Mai, nơi nồng độ chì tổng số gấp hơn 37 lần quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.
  • Xác định được mối tương quan giữa độ chua cao của đất ($pH_{KCl} = 4,3$) với tính linh động rất lớn của chì ($378,20$ mg/kg Pb dễ tiêu), làm gia tăng sự hấp thu độc chất vào chuỗi thức ăn.
  • Thiết lập quy trình khảo nghiệm vai trò cộng sinh của nấm rễ nội sinh AMF thương phẩm (Mycoroot) đối với cây dương xỉ bản địa Pteris vittata L. trong điều kiện đất ô nhiễm tải lượng cao.
  • Đề xuất giải pháp sinh học chi phí thấp, thân thiện với môi trường nhằm phục hồi đất nông nghiệp bị nhiễm độc chì tại các làng nghề tái chế thủ công.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Thí nghiệm chỉ được thực hiện ở quy mô chậu vại trong nhà lưới kín với khối lượng 3 kg hỗn hợp đất - cát (tỷ lệ 3:1); đất đã qua xử lý khử trùng nhiệt ẩm ở 121°C trong 2 giờ nên làm biến đổi và triệt tiêu quần thể vi sinh vật bản địa tự nhiên; thời gian theo dõi thực nghiệm ngắn hạn (40 ngày); mẫu đất chỉ tập trung thu thập tại một địa điểm duy nhất (cánh đồng Hè thôn Đông Mai).
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu từ quy mô chậu vại ra mô hình ô thí nghiệm nhỏ (pilot) và khảo nghiệm ngoài đồng ruộng thực tế tại thôn Đông Mai; kéo dài thời gian theo dõi sinh trưởng và tích lũy kim loại qua nhiều chu kỳ thu hoạch sinh khối; nghiên cứu phối hợp các biện pháp cải tạo thổ nhưỡng (bón vôi khử chua, nâng cao pH) kết hợp tối ưu hóa liều lượng nấm rễ AMF nhằm nâng cao hiệu quả làm sạch đất bị ô nhiễm chì.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Giảng viên, sinh viên và học viên cao học các chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Khoa học Đất, Công nghệ Sinh học Môi trường và Độc học Môi trường.
  • Nội dung có giá trị ứng dụng:
    • Quy trình thiết kế thí nghiệm chậu vại kiểm chứng tương tác cộng sinh giữa nấm rễ AMF và thực vật siêu tích lũy kim loại.
    • Kỹ thuật nhuộm mẫu rễ bằng xanh Trypan để định tính và định lượng sự xâm nhiễm nấm nội cộng sinh.
    • Bộ dữ liệu thực tế về đặc tính lý hóa đất và mức độ ô nhiễm chì tổng số, chì linh động tại làng nghề tái chế kim loại truyền thống, làm cơ sở đối sánh cho các nghiên cứu xử lý môi trường đất sau này.

Câu hỏi thường gặp

1. Hàm lượng chì tổng số trong đất nghiên cứu tại thôn Đông Mai vượt quy chuẩn quốc gia bao nhiêu lần?

Kết quả phân tích mẫu đất lấy tại cánh đồng Hè thôn Đông Mai cho thấy hàm lượng chì tổng số đạt 2622,14 mg/kg đất khô. Khi đối chiếu với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về giới hạn kim loại nặng trong đất (QCVN 03:2008/BTNMT dành cho đất sản xuất nông nghiệp là 70 mg/kg), hàm lượng chì tại đây vượt ngưỡng cho phép 37,45 lần.

2. Nguyên nhân nào làm cho đất tại khu vực nghiên cứu có độ chua cao ($pH_{KCl} = 4,3$)?

Độ chua của đất ($pH_{KCl} = 4,3$ - thuộc loại đất rất chua) bắt nguồn từ hai nguyên nhân chính: thứ nhất, đất tiếp nhận một lượng lớn dung dịch axit chứa chì thải trực tiếp ra môi trường từ hoạt động phá dỡ bình ắc quy phế thải của làng nghề; thứ hai, tập quán canh tác nông nghiệp sử dụng quá nhiều phân bón hóa học chứa các gốc axit tồn dư trong đất.

3. Thí nghiệm chậu vại được thiết kế gồm những công thức nào?

Thí nghiệm bố trí 4 công thức với 3 lần nhắc lại trong chậu chứa 3 kg hỗn hợp đất và cát tỷ lệ 3:1 (đã khử trùng ở 121°C trong 2 giờ), mật độ 4 cây dương xỉ/chậu:

  • Công thức 1: Dương xỉ (đối chứng, không bón chế phẩm).
  • Công thức 2: Dương xỉ + 20 g chế phẩm Mycoroot/cây.
  • Công thức 3: Dương xỉ + 40 g chế phẩm Mycoroot/cây.
  • Công thức 4: Dương xỉ + 80 g chế phẩm Mycoroot/cây.

4. Phương pháp xác định sự xâm nhiễm của nấm rễ AMF vào rễ cây dương xỉ được thực hiện như thế nào?

Tác giả thu 1 g mẫu rễ dương xỉ ở mỗi chậu thí nghiệm, rửa sạch rễ bằng dung dịch KOH 10%, tiến hành nhuộm rễ bằng dung dịch xanh Trypan 0,05% pha trong lactophenol, sau đó quan sát trên kính hiển vi quang học để xác định các cấu trúc sợi nấm và túi nấm xâm nhiễm.

5. Hoạt động tái chế ắc quy thủ công tại thôn Đông Mai phát tán chì ra môi trường bằng những đường nào?

Chì phát tán qua ba con đường chính: (1) Nước thải chứa axit và chì phát sinh từ công đoạn phá dỡ vỏ bình ắc quy bị đổ bừa bãi ra cống rãnh, kênh mương dẫn nước tưới; (2) Bụi chì và oxit chì từ các lò hỏa luyện sử dụng than cốc phát tán vào không khí, sau đó lắng đọng xuống mặt đất và ao hồ; (3) Chất thải rắn gồm bản cực hỏng, xỉ lò và vỏ bình chứa chì tập kết không đúng quy định ngấm dần vào đất và nước ngầm.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Thúy là công trình nghiên cứu thực nghiệm có ý nghĩa khoa học và thực tiễn, phản ánh tình trạng ô nhiễm chì tổng số vượt chuẩn hơn 37 lần tại đất nông nghiệp làng nghề Đông Mai. Nghiên cứu đã bước đầu chuẩn hóa quy trình sử dụng chế phẩm nấm rễ nội cộng sinh AMF (Mycoroot) kết hợp loài dương xỉ bản địa Pteris vittata L. trong điều kiện đất thịt chua ô nhiễm chì nặng. Đây là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị cao về mặt phương pháp luận và số liệu thực chứng cho các đề tài xử lý ô nhiễm kim loại nặng bằng công nghệ sinh học thực vật.