LỜI MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài: Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi nƣớc ta phát triển rất mạnh, tốc độ tăng trƣởng bình quân đạt 8,7%/năm(Cục Chăn nuôi, 2006). Đặc điểm nổi bật nhất trong thời gian qua của ngành chăn nuôi nƣớc ta là chuyển từ hình thức chăn nuôi nhỏ lẻ tại hộ gia đình sang chăn nuôi tập trung theo quy mô trang trại. Hình thức chăn nuôi tập trung theo quy mô trang trại dần đƣợc hình thành và có xu hƣớng phát triển mạnh, nhất là khi Chính phủ ban hành Nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 về Phát triển kinh tế trang trại [7]. Đây là xu hƣớng phổ biến trên thế giới và là hƣớng chuyển dịch cơ cấu kinh tế quan trọng trong sản xuất nông nghiệp của nƣớc ta.
Trong các loại vật nuôi, trang trại chăn nuôi lợn chiếm tỷ lệ lớn nhất với tổng số 7. Trong đó, miền Bắc có 3.069 trang trại, chiếm 41,1%, miền Nam có 4.406 trang trại, chiếm 58,9%. Trong 3 năm gần đây, quy mô chăn nuôi lợn trong các trang trại có xu hƣớng tăng nhanh do có tƣơng quan giữa tỷ lệ lợi nhuận và số lƣợng đầu con chăn nuôi. Quy mô chăn nuôi lợn nái phổ biến từ 20-50 con/trang trại, chiếm 71,3% trang trại chăn nuôi lợn nái và quy mô lợn thịt phổ biến từ 100-200 con/trang trại chiếm 75,5% trang trại chăn nuôi lợn thịt (Cục Chăn nuôi, 2008).
Việc hình thành và phát triển mạnh các trang trại chăn nuôi lợn ở nƣớc ta đã đem lại hiệu quả kinh tế cao, tăng năng suất lao động và thu nhập của ngƣời nông dân. Tuy nhiên, các trang trại chăn nuôi lợn cũng ảnh hƣởng xấu đến chất lƣợng môi trƣờng xung quanh bởi các loại chất thải rắn, lỏng và khí phát sinh ngày càng nhiều và không đƣợc xử lý triệt để. Do đó, việc nghiên cứu, đánh giá tình hình xử lý chất thải tại các trang trại chăn nuôi lợn là nhiệm vụ cấp bách để bảo đảm phát triển ngành chăn nuôi một cách bền vững. Từ những lý do trên chúng tôi lựa chọn thực hiện đề tài “Đánh giá tình hình xử lý chất thải tại các trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên”.
1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ý nghĩa thực tiễn và khoa học của đề tài: Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở dẫn liệu tham khảo về tình hình phát triển, các vấn đề môi trƣờng cũng nhƣ các biện pháp xử lý chất thải trong chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn theo quy mô trang trại nói riêng. Đồng thời là cơ sở dẫn liệu để đánh giá và so sánh với những nghiên cứu khác trong tƣơng lai. Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp các cán bộ môi trƣờng, cán bộ nông nghiệp đƣa ra những cảnh báo, khuyến cáo, định hƣớng cho việc phát triển sản xuất cũng nhƣ là quản lý tốt các vấn đề môi trƣờng phát sinh nhằm phát triển bền vững các trang trại chăn nuôi lợn. Mục đích nghiên cứu: Chỉ ra tình hình phát triển và đặc điểm của các trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Văn Giang.
Đánh giá hiện trạng xử lý chất thải của các trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Văn Giang. Đề xuất các giải pháp cải thiện môi trƣờng tại các trang trại chăn nuôi lợn. Nội dung nghiên cứu: Phân tích tổng hợp các điều kiện Tự nhiên – Kinh tế - Xã hội trên địa bàn huyện Văn Giang, Hƣng Yên. Hiện trạng phát triển và đặc điểm của các trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Văn Giang, Hƣng Yên.
Phân tích, đánh giá hiện trạng xử lý chất thải tại các trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Văn Giang, Hƣng Yên. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về tình hình phát triển chăn nuôi nƣớc ta 1.1 Xu hướng phát triển Chăn nuôi là một trong hai ngành sản xuất quan trọng của nền nông nghiệp nƣớc ta. Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi có xu hƣớng phát triển mạnh cả về quy mô và số lƣợng.
Điều này góp phần quan trọng đảm bảo phát triển kinh tế nông nghiệp – nông thôn ở nƣớc ta. Trong những năm qua số lƣợng các loại vật nuôi chính của nƣớc ta liên tục tăng lên. Bình quân tăng trƣởng trong giai đoạn 1990 – 2010 của trâu bò đạt 2,39%/năm; của lợn là 6,16%/năm; Dê, Cừu là 12,31%/năm và của Gia cầm là 8,99%/năm. Chỉ duy nhất có số lƣợng Ngựa nuôi là giảm đi với tốc độ bình quân 1,71%/năm (Tổng cục Thống kê, 2011).
Số liệu cụ thể đƣợc chỉ ra trong bảng 1.1: Thống kê số lƣợng các loại vật nuôi chính ở nƣớc ta trong giai đoạn 1990 - 2010 Trâu Bò Lợn Ngựa Dê, cừu Gia cầm Năm (Nghìn con) (Nghìn con) (Nghìn con) (Nghìn con) (Nghìn con) (Triệu con) 1990 2.71 12,31 8,99 (%/năm) Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2011 Ghi chú: TTBQ = Tăng trưởng bình quân 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Hình thức chăn nuôi Hiện nay ở nƣớc ta có hai hình thức chăn nuôi chính. Bên cạnh hình thức chăn nuôi truyền thống trong hộ gia đình thì những năm gần đây hình thức chăn nuôi tập trung theo quy mô trạng trại đã đƣợc hình thành và phát triển nhanh (Cục Chăn nuôi, 2006). Đây là xu hƣớng phát triển phổ biến trên thế giới và là hƣớng chuyển dịch cơ cấu kinh tế quan trọng trong sản xuất nông nghiệp nƣớc ta. *Hình thức chăn nuôi hộ gia đình Đây là hình thức chăn nuôi đã có từ lâu đời và vẫn còn phổ biến ở nƣớc ta.
Trong những năm qua Nhà nƣớc cũng có những chính sách khuyến khích việc phát triển chăn nuôi tại hộ gia đình nhằm giải quyết lao động nhàn rỗi ở địa phƣơng và góp phần xóa đói giảm nghèo (Cao Trƣờng Sơn và cộng sự, 2010). Hiện nay cứ trung bình 5 hộ dân sống ở nông thôn thì có tới 3 hộ chăn nuôi lợn và gia cầm chiếm tỷ lệ gần 60% (Cục Chăn nuôi, 2008). Các hộ dân thƣờng nuôi từ 2-5 con Trâu, Bò; 3-10 con Lợn và 20-30 con Gia cầm/hộ (Phùng Đức Tiến và cộng sự, 2009). Nhìn chung, hình thức chăn nuôi hộ gia đình có khả năng kết hợp với trồng trọt để tận dụng các sản phẩm dƣ thừa của mùa vụ, quy mô nhỏ, ít gây ô nhiễm môi trƣờng tuy nhiên hiệu quả kinh tế lại không cao.
Trong những năm gần đây do nhu cầu của thị trƣờng đối với các sản phẩm chăn nuôi ngày càng cao dẫn tới việc một số nông hộ tăng số lƣợng vật nuôi trong gia đình lên cao. Hình thức này về cơ bản vẫn là chăn nuôi trong hộ gia đình nhƣng số lƣợng vật nuôi lớn hơn trƣớc. Nhiều chuyên gia nghiên cứu về lĩnh vực chăn nuôi ở nƣớc ta xếp hình thức này thuộc nhóm “gia trại”. Mặc dù vậy, hình thức chăn nuôi này vẫn chƣa đƣợc công nhận phổ biến.
*Hình thức chăn nuôi trang trại tập trung Đây là hình thức chăn nuôi mới đƣợc hình thành và phát triển mạnh trong những năm gần đây nhằm đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của nền kinh tế thị trƣờng. Xu hƣớng phát triển chăn nuôi theo quy mô trạng trại diễn ra khá nhanh với tốc độ tăng trƣởng bình quân 58,7%/năm trong giai đoạn 2000-2006 (Cục Chăn nuôi, 2006). Số lƣợng các trang trại chăn nuôi ở nƣớc ta cũng liên tục tăng lên trong những năm gần đây. Năm 2001 cả nƣớc ta có khoảng 1.761 trang trại chăn nuôi đến năm 2010 đã 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tăng lên tới 23.
Số lƣợng vật nuôi trung bình trong các trang trại là: Lợn nái từ 20-50 con/trang trại, Lợn thịt 100-200 con/trang trại;Gà từ 2.000 con/trang trại, Bò sữa từ 20-50 con/trang trại, Bò đẻ từ 10-20 con/trang trại (Đào Lệ Hằng, 2008; Phùng Đức Tiến và cộng sự, 2009). Hình thức chăn nuôi theo trang trại có số lƣợng vật nuôi lớn, đem lại hiệu quả kinh tế cao nhƣng lại gây ra những vấn đề về môi trƣờng do các loại chất thải phát sinh quá lớn.3 Tỷ lệ phân bố Mặc dù chăn nuôi của nƣớc ta đang phát triển mạnh mẽ tuy nhiên mật độ vật nuôi và số lƣợng các trang trại chăn nuôi ở nƣớc ta phân bố không đồng đều giữa các vùng miền trong cả nƣớc. Tỷ lệ phân bố các hộ chăn nuôi ở nƣớc ta tập trung chủ yếu tại khu vực miền Bắc đặc biệt là các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc (hình 1. Tuy nhiên hoạt động chăn nuôi trang trại tập trung lại phát triển mạnh nhất tại khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng với 10.277 trang trại chiếm 43, 62% tổng số trạng trại chăn nuôi của cả nƣớc (Tổng cục Thống kê, 2011).
Tỷ lệ phân bố các trang trại chăn nuôi theo các vùng miền ở nƣớc ta đƣợc chỉ rõ trong bảng 1.2: Số lƣợng các trang trại chăn nuôi phân theo vùng ở nƣớc ta Vùng Số trang trại Tỷ lệ (%) Đồng bằng sông Hồng 10.277 43,62 Trung du miền núi phía Bắc 1.926 8,18 Bắc trung bộ & Duyên hải miền Trung 3.173 13,47 Tây Nguyên 812 3,45 Đông Nam Bộ 4.089 17,36 Đồng bằng sông Cửu Long 3.558 100 Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2011 Kết luận: Trong những năm qua ngành chăn nuôi nƣớc ta đã không ngừng phát triển, số lƣợng các loài vật nuôi tăng lên nhanh chóng. Hai hình thức chăn nuôi phổ biến là chăn nuôi tại hộ gia đình và chăn nuôi theo trạng trại tập trung. Mặc dù 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chăn nuôi nông hộ vẫn còn phổ biến song xu hƣớng phát triển hình thức chăn nuôi tập trung tại các trang trại đang diễn ra mạnh mẽ. Đây là xu hƣớng phát triển nổi bật của ngành chăn nuôi trong những năm qua và sẽ tiếp tục là hƣớng phát triển chính của ngành chăn nuôi trong thời gian tới.1: Bản đồ phân bố các hộ chăn nuôi ở nƣớc ta 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.4 Đặc điểm chuồng trại Trong chăn nuôi việc bố trí chuồng trại không chỉ có ý nghĩa bảo đảm sự sinh trƣởng, phát triển tốt cho vật nuôi mà còn ảnh hƣởng lớn đến các vấn đề môi trƣờng và quản lý chất thải.
Kết quả nghiên cứu của Phùng Đức Tiến và cộng sự năm 2009 đã cho thấy tỷ lệ bố trí các chuồng trại chăn nuôi kiên cố, bán kiên cố và đơn giản là khá khác biệt đối với hai hình thức chăn nuôi trang trại và chăn nuôi hộ gia đình. Tỷ lệ này cũng không đồng nhất trong chăn nuôi các loài gia súc, gia cầm. Số liệu cụ thể đƣợc chỉ ra trong bảng 1.