CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ, LƯỢNG GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA THIÊN TAI DO BÃO LŨ TỚI SINH KẾ CƯ DÂN KHU VỰC VEN BIỂN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu trên thế giới * Nghiên cứu sinh kế và sinh kế bền vững Sinh kế bao gồm khả năng, nguồn vốn (cả nguồn tài nguyên hữu hình và tài nguyên xã hội) và những hoạt động cần thiết của con người để sinh sống.
Sinh kế được coi là bền vững (sinh kế bền vững) khi có thể giải quyết hoặc vượt qua những khủng hoảng, cú sốc và duy trì hoặc nâng cao khả năng và nguồn vốn cả ở thời điểm hiện tại và trong tương lai, trong khi không làm xói mòn nguồn tài nguyên tự nhiên [27]. Để hiểu thêm về cách thức con người có thể phát triển và duy trì sinh kế, Cơ quan Phát triển Quốc tế của Vương quốc Anh (DFID) đã phát triển khung sinh kế bền vững (SLF). Khung này được coi là công cụ phân tích, hữu dụng để hiểu các nhân tố khác nhau gây ảnh hưởng đến sinh kế của con người và những nhân tố này tương tác với nhau như thế nào [29]. SLF nhìn sinh kế như một hệ thống và cung cấp cách thức để hiểu: nguồn vốn của con người; những chiến lược mà con người thực hiện để tạo sinh kế; bối cảnh mà trong đó sinh kế được hình thành và phát triển; và những nhân tố giúp giảm thiểu tính dễ bị tổn thương đối với những cú sốc và khủng hoảng.
Hiện nay có rất nhiều nghiên cứu tập trung vào sinh kế bền vững, coi đây là một biện pháp hữu hiệu nhằm giải quyết mối quan hệ giữa con người và môi trường (Scoones 1998; Leach và cộng sự, 1999; Pretty and Ward, 2001). Sinh kế được coi là cách thức đơn giản để con người kiếm sống và giúp họ có thể có lựa chọn thay thế. Tuy nhiên, phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững tập trung vào các loại: vốn kinh tế (tài sản của hộ gia đình), vốn con người (các kỹ năng, giáo dục, khả năng lao động) và vốn xã hội (cộng đồng, các mối quan hệ) [33]. Như vậy, cần nhìn nhận rộng hơn về các mối quan hệ xã hội, kinh tế giúp tạo cơ hội hình thành nên hệ thống sinh kế.
Tại các quốc gia châu Phi như Mozambique, sự xáo trộn về sinh kế làm quá 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trình “bần cùng hóa” một cách lâu dài, gây nên tình trạng chậm đổi mới tại nông thôn. Trong một công trình nghiên cứu về “Ảnh hưởng của những thay đổi về sử dụng đất, sinh kế nông dân - Một nghiên cứu trường hợp làng Madertala dưới Dumuria upazila ở quận Khulna” (2008), Gautam Mondal trên cơ sở phân tích mô hình sử dụng đất hiện tại và quá khứ của khu vực nghiên cứu cho thấy thông qua qua mô hình việc làm, thu nhập, tính mùa vụ, bản sắc xã hội, những thay đổi trong sử dụng đất đã tác động trên mô hình sinh kế của người dân phụ thuộc vào đất trực tiếp hoặc gián tiếp. Một sự thay đổi đáng kể đã xảy ra trong đất nông nghiệp trong khu vực nghiên cứu. 46,26% tổng diện tích đất đã thay đổi từ sản xuất một loại nông nghiệp duy nhất sang hình thành các trang trại nông nghiệp tôm trong giai đoạn này đã có một kết quả ảnh hưởng đến sự thay đổi của mô hình sinh kế của người nông dân nhỏ trong lĩnh vực này.
Trước khi thay đổi sử dụng đất sinh kế của nông dân là vô cùng bất ổn do sự thay đổi thu nhập theo mùa do nông nghiệp mang tính mùa vụ, nhưng sau khi thay đổi sử dụng đất họ kiếm được nhiều tiền bất kỳ thời gian nào trong năm, sinh kế cũng từ đó mà bền vững. *Nghiên cứu lượng giá thiệt hại do thiên tai và biến đổi khí hậu Lượng giá kinh tế là một nội dung trọng tâm của một số nghiên cứu trước đây và hiện nay, nhưng không có nhiều. Ở quy mô toàn cầu, lượng giá được dựa trên một số chỉ số cơ bản, chẳng hạn chỉ số rủi ro khí hậu của Germanwatch cho hầu hết các nước trên thế giới được tính toán dựa trên sự sụt giảm GDP (tính theo sức mua tương đương PPP) và số lượng người tử vong do những hiện tượng khí hậu cực đoan như bão, mưa lớn và hạn hán; chỉ số dễ bị tổn thương do thiên tai (CCVI) được đánh giá dựa trên 42 yếu tố xã hội, kinh tế và môi trường để đánh giá rủi ro trên ba lĩnh vực chính của các quốc gia; chi phí cho sự căng thẳng gia tăng và tổn thất tiềm tàng từ thiên tai và biến đổi khí hậu. Một đánh giá kinh tế thích ứng của Ngân hàng Thế giới năm 2010 cho rằng tác động của thiên tai và biến đổi khí hậu đến ngành nông nghiệp có thể làm GDP toàn cầu năm 2050 giảm 0,7-2,4%; lợi ích 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của các biện pháp thích ứng là 1,3-1,6% tổng GDP và do đó có thể cao hơn những chi phí [39].
Lượng giá thiệt hại do thiên tai ở quy mô địa phương cũng được đề cập tới trong một số công trình nghiên cứu khoa học. Năm 1996, Hope và Maul thực hiện một nghiên cứu về lượng giá tác động do phát thải CO2 dựa trên hai mô hình với phương thức tiếp cận rất khác nhau là mô hình PAGE và mô hình Intera [25]. Hướng này cho phép tiếp cận lượng giá bằng chi phí cận biên, thích hợp cho các quyết định chính sách. Velarde và cộng sự (2005) đã làm một nghiên cứu về lượng giá tác động của thiên tai và biến đổi khí hậu tại các khu bảo vệ tự nhiên ở châu Phi, trong đó, phương pháp tiếp cận chuyển giao các lợi ích (benefits transfer approach) được sử dụng để xác định giá trị kinh tế cho các hệ sinh thái được dự đoán sẽ thay đổi trong các khu bảo tồn [28].
Ngoài ra còn phải kể đến những công trình nghiên cứu tổng hợp về đánh giá và lượng giá tác động của thiên tai đến các khía cạnh kinh tế xã hội: nghiên cứu đánh giá và lượng giá tác động đến hệ thống thoát nước ở Helsingborg, Thụy Điển (Annette và cộng sự, 2008); tác động đến nhiệt độ nước ngầm tầng nông (Taylor và Stefan, 2009); tác động phá hoại tiềm năng đối với đồông bằng sông Dương Tử (Gu và cộng sự, 2011); chất lượng nước sông ở một hệ thống tích hợp nước thải đô thị ở Vương quốc Anh (Maryam và cộng sự, 2012). Một số nghiên cứu khác liên kết biến đổi khí hậu với an ninh lương thực và giảm thiểu nghèo đói ở vùng nhiệt đới (Sanchez, 2000); phân tích và dự báo đô thị hóa của nghèo đói (Ravallion, 2002); nghiên cứu sinh kế, tính dễ tổn thương và thích ứng với biến đổi khí hậu ở Morogoro-Tanzania [30], nghiên cứu đánh giá và lượng giá tác động của biến đổi khí hậu đến nghèo đói do thay đổi sản lượng cây trồng và thích ứng của cộng đồng nông thôn miền núi [30]. Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam Nghiên cứu mối quan hệ giữa biến đổi khí hậu và sinh kế tại Việt Nam nhằm đề xuất giải pháp giảm bớt tính dễ bị tổn thương của sinh kế ven biển và xây dựng khả năng phục hồi do các tác động của khí hậu; đồng thời, xây dựng khả năng phục 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hồi các hệ thống sinh thái và xã hội mà những sinh kế này phụ thuộc vào những tác động của biến đổi khí hậu và tăng cường năng lực cung cấp các dịch vụ có chất lượng của các hệ thống này. Lưu Bich Ngọc và cộng sự (2012) đã chỉ ra sự khác biệt về tác động của biến đổi khí hậu đến biến đổi sử dụng đất và thay đổi sinh kế cộng đồng giữa lưu vực thượng nguồn và đồng bằng ở đồng bằng châu thổ sông Hồng [8].
Gần đây, Nguyễn Thị Thanh Hương và cộng sự (2011) đã thực hiện một nghiên cứu dựa trên phân tích tác động kép của biến đổi khí hậu và đô thị hóa đối với rủi ro ngập lụt đô thị tại thành phố Cần Thơ. Trong công trình, phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững và đánh giá có sự tham gia được sử dụng, lấy các cộng đồng nghèo làm trung tâm trong việc phản ánh tình hình biến đổi khí hậu và ảnh hưởng của nó đối với sinh kế của người dân cũng như những giải pháp hiện có. Đại diện chính quyền địa phương và các tổ chức đoàn thể cũng được tham vấn trong quá trình thực hiện nghiên cứu. Nhìn chung, các nghiên cứu tác động của thiên tai đến sinh kế tại Việt Nam chú trọng nhiều tới tác động của thiên tai lên nền tảng tài sản sinh kế, bao gồm vốn tự nhiên (suy thoái tài nguyên và môi trường đất, suy thoái nguồn nước, suy thoái các nguồn lợi tự nhiên,.), vốn xã hội (các hệ thống vốn xã hội dựa vào cộng đồng, biện pháp ứng phó với thiên tai của chính quyền địa phương và tổ chức quần chúng, tác động của thiên tai đối với hệ thống hỗ trợ hiện có,.), vốn vật chất (cơ sở hạ tầng hiện tại được thiết kế có hoặc không tính đến xu thế tác động của thiên tai và biến đổi khí hậu,.), vốn tài chính (tác động của thiên tai gây thiệt hại tài sản sản xuất, giảm thu nhập, tạo căng thẳng trong lĩnh vực tài chính,.) và vốn con người (tác động của thiên tai làm thúc đẩy việc di cư, thay đổi cơ cấu lao động và cơ cấu thu nhập,.
Các công trình liên quan tới khu vực nghiên cứu Việt Nam có chiều dài đường bờ biển trên 3.260 km, đứng thứ 27 trong số 156 quốc gia có biển trên thế giới. Nằm trong dải ven biển Bắc Trung Bộ, lãnh thổ ven biển huyện Kỳ Anh thuộc tỉnh Hà Tĩnh vừa mang đặc điểm chung của đới ven biển Việt Nam, vừa có những đặc thù riêng về phát triển kinh tế cũng như chịu tác 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động của thiên tai và biến đổi khí hậu. Cho tới nay đã có nhiều chương trình, đề tài thuộc các cấp khác nhau điều tra, nghiên cứu liên quan tới lãnh thổ ven biển này. Nhận thức được vị thế về địa lý và tầm quan trọng của vùng Trung Bộ, sau khi bước vào giai đoạn Đổi mới, Nhà nước đã quan tâm đến công tác quy hoạch lãnh thổ, phát triển kinh tế xã hội của các địa phương thuộc vùng này.