Tổng quan nghiên cứu

Dải ven biển Việt Nam dài hơn 3.260 km đang đứng trước những hiểm họa nghiêm trọng do biến đổi khí hậu toàn cầu. Các dự báo khí hậu chỉ ra rằng nếu mực nước biển dâng cao 1m, Việt Nam sẽ đối mặt mức thiệt hại kinh tế ước tính lên tới 17 tỷ USD mỗi năm, tương đương 10% tổng sản phẩm quốc nội (GDP), đồng thời làm mất đi 12,3% diện tích đất trồng trọt và ảnh hưởng trực tiếp tới khoảng 20% dân số. Trong bối cảnh đó, huyện đảo Cát Hải thuộc thành phố Hải Phòng với tổng diện tích tự nhiên 345 km2, đặc biệt là khu vực đảo Cát Hải có diện tích khoảng 40 km2 với cao độ địa hình thấp chỉ từ 2,0 đến 2,5m so với mực nước biển, là tâm điểm chịu tổn thương nặng nề bởi triều cường, xâm nhập mặn và bão lũ cực đoan.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn tập trung vào việc giải quyết mâu thuẫn giữa suy thoái tài nguyên sinh thái do biến đổi khí hậu và áp lực chuyển đổi sinh kế khi quy hoạch phát triển kinh tế đảo Cát Hải chuyển dần từ nông nghiệp, diêm nghiệp sang dịch vụ công nghiệp và cảng biển. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm: phân tích xu thế biến đổi của các yếu tố khí hậu trong 30 năm qua; đánh giá toàn diện tính dễ bị tổn thương cùng năng lực chống chịu của hệ sinh thái xã hội tại 3 xã, thị trấn trọng điểm gồm Hoàng Châu, Văn Phong và thị trấn Cát Hải; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp phát triển sinh kế thích ứng bền vững cho cộng đồng dân cư địa phương.

Phạm vi nghiên cứu được triển khai thực địa trong thời gian 11 tháng (từ tháng 12/2013 đến tháng 11/2014) trên địa bàn 3 xã, thị trấn đại diện cho các phương thức mưu sinh chính như nuôi trồng thủy sản trên 469,16 ha và sản xuất muối trên 118,27 ha. Ý nghĩa của đề tài được thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn giúp bảo vệ nguồn sống của hơn 28% hộ dân phụ thuộc vào hệ sinh thái bãi triều, đồng thời hỗ trợ chính quyền địa phương lồng ghép chỉ số thích ứng vào kịch bản nước biển dâng từ 42 cm đến 86 cm tại khu vực Hải Phòng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng tích hợp của 3 khung lý thuyết và mô hình nghiên cứu khoa học tiên tiến:

  • Tiếp cận thích ứng dựa trên hệ sinh thái (Ecosystem-based Adaptation - EbA): Được khởi xướng bởi Công ước Đa dạng sinh học và Ngân hàng Thế giới, lý thuyết này nhấn mạnh việc bảo tồn tính toàn vẹn của các hệ sinh thái tự nhiên như 88 ha rừng ngập mặn ven đảo để nâng cao năng lực chống chịu trước thiên tai và duy trì 4 nhóm dịch vụ hệ sinh thái gồm cung cấp, điều tiết, văn hóa và hỗ trợ sinh kế cho con người.
  • Tiếp cận thích ứng dựa vào cộng đồng (Community-Based Adaptation - CBA): Đặt người dân bản địa làm trung tâm theo nguyên tắc thực hiện từ cộng đồng, dựa vào cộng đồng và làm lợi cho cộng đồng, kết hợp hài hòa phương pháp tiếp cận từ dưới lên với các định hướng chính sách quản lý từ trên xuống.
  • Khung sinh kế bền vững của DFID (Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh): Mô hình phân tích mối tương tác đa chiều giữa bối cảnh dễ bị tổn thương, các định chế chính sách với 5 nguồn vốn sinh kế then chốt của hộ gia đình bao gồm nguồn vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn con người, vốn tài chính và vốn xã hội.

Các khái niệm chuyên ngành cốt lõi được chuẩn hóa trong nghiên cứu bao gồm: Biến đổi khí hậu (Climate Change), Tính dễ bị tổn thương (Vulnerability), Khả năng chống chịu thích ứng (Adaptive Resilience), Hệ sinh thái - xã hội (Socio-ecological System) và Sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu (Climate Change Adaptive Livelihood).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa tầng kết hợp giữa dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp thực địa:

  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Thu thập chuỗi số liệu khí tượng thủy văn 30 năm (giai đoạn 1980 - 2013) từ trạm Phù Liễn và trạm hải văn Hòn Dáu; các kịch bản biến đổi khí hậu quốc gia; số liệu thống kê kinh tế xã hội và quy hoạch sử dụng đất năm 2013 của huyện Cát Hải.
  • Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Khảo sát chọn mẫu phân tầng có chủ đích với quy mô 145 mẫu đại diện gồm các hộ gia đình làm muối, nuôi trồng thủy sản, đánh bắt ven bờ, cán bộ lãnh đạo xã, chuyên viên quản lý và đại diện hội phụ nữ tại 3 xã, thị trấn Hoàng Châu, Văn Phong và Cát Hải; tập huấn cho 22 cộng tác viên địa phương nòng cốt để đồng hành thu thập thông tin.
  • Phương pháp phân tích: Luận văn kết hợp phương pháp Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) thông qua 9 công cụ chuyên sâu (lịch mùa vụ thiên tai, bản đồ hiểm họa, ma trận rủi ro, sơ đồ Venn, phân tích SWOT) và Phương pháp đánh giá chỉ số rủi ro thiên tai khí hậu (CDRI) bằng ma trận 5x5. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này nhằm lượng hóa chính xác các chỉ báo định tính thành thang đo so sánh trên 5 phương diện vật chất, kinh tế, xã hội, môi trường tự nhiên và thể chế, bảo đảm phản ánh trung thực tri thức bản địa và gia tăng độ tin cậy khoa học trong suốt tiến trình 11 tháng nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình điều tra thực địa và xử lý dữ liệu đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng về hiện trạng sinh thái - xã hội tại đảo Cát Hải:

  • Thứ nhất, hệ sinh thái rừng ngập mặn suy giảm nghiêm trọng gây đe dọa sinh kế bãi triều: Toàn đảo Cát Hải chỉ còn 88 ha rừng ngập mặn phân bố tại Hoàng Châu (29 ha), Đồng Bài (25 ha), thị trấn Cát Hải (19 ha) và Văn Phong (15 ha). Trong khi đó, có tới 28% số hộ dân tại xã Hoàng Châu phụ thuộc trực tiếp vào việc khai thác thủy sản tự nhiên dưới tán rừng ngập mặn với mức thu nhập chiếm hơn 40% tổng thu nhập hộ.
  • Thứ hai, hoạt động nuôi trồng thủy sản đối mặt rủi ro thiên tai cực đoan: Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản toàn đảo đạt 469,16 ha, tập trung lớn nhất tại thị trấn Cát Hải (85,4 ha), xã Văn Phong (53,5 ha) và xã Hoàng Châu (13,99 ha). Độ mặn nước biển dao động biên độ lớn từ 0,930% trong mùa mưa lên đến 3,111% trong mùa khô, kết hợp với biên độ triều cường từ 3,3 đến 3,9m khiến hơn 65% diện tích đầm nuôi đối mặt nguy cơ mất trắng khi xảy ra bão lớn hoặc nắng nóng kéo dài.
  • Thứ ba, sinh kế diêm nghiệp truyền thống đứng trước nguy cơ xóa bỏ: Toàn huyện đảo còn 118,27 ha diện tích ruộng muối (Văn Phong 35,24 ha, thị trấn Cát Hải 15,28 ha, Hoàng Châu 6,87 ha), tuy nhiên hơn 80% người làm muối bày tỏ nguyện vọng chuyển đổi nghề nghiệp do số ngày mưa bất thường gia tăng và giá trị ngày công lao động giảm sút.
  • Thứ tư, diễn biến khí hậu cực đoan và kịch bản ngập lụt: Nhiệt độ trung bình năm tại khu vực duy trì ở mức 25 đến 28°C nhưng có xu thế gia tăng số đợt nắng nóng trên 30°C trong mùa hè và rét đậm dưới 10°C trong mùa đông; kịch bản nước dâng từ 42 đến 86 cm đe dọa ngập úng hơn 70% diện tích các vùng trũng thấp ven đê.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân sâu xa của tình trạng tổn thương sinh kế bắt nguồn từ sự tương tác kép: một mặt do tác động trực tiếp của các hiện tượng thời tiết cực đoan làm thay đổi chu kỳ sinh học và độ mặn nguồn nước; mặt khác do sự chuyển đổi quy hoạch kinh tế sang phát triển hạ tầng Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng làm thu hẹp không gian mặt nước truyền thống. Kết quả này tương đồng với các cảnh báo của IPCC về mức độ phơi lộ rủi ro tại các dải hải đảo nhiệt đới ven bờ.

Các chuỗi dữ liệu thực nghiệm trong luận văn có thể được trực quan hóa rất sinh động thông qua biểu đồ đường thể hiện xu thế biến thiên nhiệt độ - lượng mưa tại trạm Phù Liễn qua 30 năm, kết hợp với bản đồ phân vùng nguy cơ ngập lụt ứng với các mức nước biển dâng 1m và bảng ma trận 5x5 so sánh mức độ suy giảm của 5 nguồn vốn sinh kế. Việc phân tích trực quan này chứng minh rằng nâng cao vốn xã hội và đa dạng hóa nguồn vốn tài chính là chìa khóa then chốt để cộng đồng nâng cao khả năng chống chịu trước các cú sốc môi trường.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để các thách thức sinh kế và củng cố năng lực chống chịu khí hậu cho đảo Cát Hải, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể:

  • Phục hồi và trồng mới 50 ha rừng ngập mặn phòng hộ ven đê: Triển khai trồng bổ sung các giống cây Trang, Sú, Vẹt tại các bãi bồi xung yếu thuộc xã Hoàng Châu và xã Văn Phong; đặt mục tiêu nâng tỷ lệ che phủ rừng ngập mặn ven đảo lên thêm 25% trong giai đoạn 2016 - 2020; cơ quan chủ trì thực hiện là Chi cục Kiểm lâm Hải Phòng phối hợp chặt chẽ cùng UBND huyện Cát Hải và cộng đồng dân cư địa phương.
  • Chuyển giao mô hình nuôi thủy sản đa tầng thích ứng biến động độ mặn: Ứng dụng quy trình kỹ thuật nuôi ghép sinh thái bền vững giữa cua biển, tôm sú và rong câu trên diện tích 150 ha đầm nuôi nước lợ; mục tiêu nâng cao năng suất thu hoạch thêm 15% đến 20%, đồng thời cắt giảm 30% tỷ lệ dịch bệnh do nắng nóng; giao Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Cát Hải chủ trì chuyển giao kỹ thuật trong lộ trình 2016 - 2018.
  • Đào tạo nghề và chuyển đổi sinh kế phi nông nghiệp cho 500 lao động: Tổ chức các lớp dạy nghề kỹ thuật cơ khí, dịch vụ logistics cảng biển và nâng cấp quy trình chế biến nước mắm truyền thống đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm cho 500 diêm dân và ngư dân bị ảnh hưởng bởi quy hoạch đất; hoàn thành đào tạo trong giai đoạn 2015 - 2017; chủ thể chịu trách nhiệm là Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện phối hợp cùng các doanh nghiệp tại Khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải.
  • Nâng cấp 12 km đê kè ven biển và lắp đặt hệ thống cảnh báo sớm: Gia cố các tuyến bờ bao đầm nuôi và đê xung yếu có khả năng chống chịu bão cấp 11 và mực triều trên 4,0m; lắp đặt 3 trạm quan trắc tự động đo độ mặn và mực nước biển tại 3 xã nghiên cứu trong giai đoạn 2016 - 2020; Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn huyện Cát Hải chịu trách nhiệm giám sát vận hành.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Lãnh đạo UBND huyện Cát Hải, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Hải Phòng có thể trực tiếp sử dụng hệ thống chỉ số CDRI và bản đồ hiểm họa để tích hợp vào Kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu cấp huyện và quy hoạch sử dụng đất tầm nhìn 10 năm.
  • Các tổ chức phi chính phủ và cơ quan phát triển quốc tế: Các tổ chức hoạt động vì môi trường và cộng đồng như Tầm nhìn Thế giới (World Vision), Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển Cộng đồng (MCD), IUCN có thể khai thác bộ công cụ 9 bước PRA để thiết kế các dự án viện trợ sinh kế EbA và hỗ trợ kỹ thuật thích ứng cho cư dân ven biển.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Các nhà nghiên cứu chuyên ngành Biến đổi khí hậu, Quản lý tài nguyên môi trường, Địa lý kinh tế và Sinh thái nhân văn có thể xem luận văn là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp tiếp cận liên ngành và quy trình phân tích định lượng 5 nguồn vốn sinh kế DFID tại vùng hải đảo.
  • Doanh nghiệp đầu tư hạ tầng và phát triển công nghiệp cảng biển: Các nhà đầu tư hạ tầng tại Khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải có thể tham khảo dữ liệu thực địa về thủy văn, nền địa chất cao độ 2,0 - 2,5m và hiện trạng xã hội để xây dựng báo cáo Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) cùng các chương trình trách nhiệm xã hội hỗ trợ người dân chuyển đổi việc làm bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Biến đổi khí hậu tác động trực tiếp và nghiêm trọng nhất đến lĩnh vực nào tại đảo Cát Hải? Tác động nghiêm trọng nhất thể hiện ở sự suy thoái hệ sinh thái rừng ngập mặn 88 ha và đe dọa trực tiếp 469,16 ha nuôi trồng thủy sản. Nước biển dâng kết hợp triều cường từ 3,3 đến 3,9m gây xói lở bờ bãi, làm biến động độ mặn từ 0,930% đến 3,111%, gây thiệt hại nặng nề cho mùa vụ nuôi thả của cư dân.

Khung sinh kế bền vững DFID được áp dụng như thế nào trong phân tích thực trạng địa phương? Nghiên cứu vận dụng khung DFID để lượng hóa 5 nguồn vốn sinh kế của 145 hộ dân thông qua ma trận 5x5. Kết quả phân tích chỉ ra rằng nguồn vốn tự nhiên và vốn vật chất của người dân đảo Cát Hải chịu mức độ tổn thương cao nhất trước các đợt bão lũ và thay đổi quy hoạch đất.

Vai trò cốt lõi của hệ sinh thái rừng ngập mặn đối với cộng đồng dân cư xã Hoàng Châu là gì? Rừng ngập mặn 29 ha tại xã Hoàng Châu đóng vai trò là lá chắn sinh học làm giảm hơn 50% năng lượng sóng biển bảo vệ đê điều, đồng thời là ngư trường cung cấp nguồn thức ăn và thu nhập chính cho hơn 28% số hộ gia đình sinh sống dựa vào nghề bắt cua cá bãi triều.

Sự khác biệt căn bản giữa mô hình sinh kế thích ứng và sinh kế truyền thống tại Cát Hải là gì? Sinh kế truyền thống thường mang tính tự phát và phụ thuộc hoàn toàn vào điều kiện tự nhiên, dễ bị tổn thương khi thời tiết biến động. Ngược lại, sinh kế thích ứng áp dụng kỹ thuật luân canh đa tầng, lựa chọn giống loài chịu mặn cao và chủ động điều tiết mùa vụ dựa trên thông tin dự báo khí hậu.

Sự thay đổi quy hoạch phát triển kinh tế công nghiệp cảng biển tạo ra áp lực gì cho bài toán thích ứng? Quy hoạch khu công nghiệp và cảng biển làm thu hẹp diện tích sản xuất nông nghiệp và diêm nghiệp từ 118,27 ha xuống mức thấp hơn, đòi hỏi chính quyền phải vừa bảo vệ hành lang sinh thái rừng ngập mặn vừa khẩn trương đào tạo nghề phi nông nghiệp để ổn định thu nhập cho người lao động.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện chuỗi dữ liệu khí hậu 30 năm, chỉ rõ xu thế gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan và kịch bản nước biển dâng từ 42 đến 86 cm tại huyện đảo Cát Hải.
  • Lượng hóa thành công mức độ tổn thương và khả năng chống chịu của hệ sinh thái - xã hội tại 3 xã, thị trấn thông qua phương pháp CDRI kết hợp khảo sát 145 hộ gia đình bằng ma trận 5x5.
  • Đánh giá chi tiết hiện trạng phân bố của 88 ha rừng ngập mặn, 469,16 ha nuôi thủy sản và 118,27 ha đất diêm nghiệp trong mối tương quan với các nguồn lực sinh kế hộ.
  • Xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp chuyển đổi sinh kế có tính khả thi cao, gắn liền giữa bảo tồn sinh thái EbA với tiếp cận dựa vào cộng đồng CBA và đào tạo nghề công nghiệp.
  • Khẳng định giá trị thực tiễn trong việc cung cấp cơ sở khoa học giúp lồng ghép chiến lược thích ứng khí hậu vào quy hoạch phát triển kinh tế xã hội huyện Cát Hải giai đoạn 2015 - 2020.

Đóng góp khoa học lớn nhất của luận văn là đã thiết lập một khung đánh giá liên ngành hoàn chỉnh, kết hợp nhuần nhuyễn giữa tri thức bản địa và các mô hình quốc tế để giải quyết bài toán sinh kế vùng hải đảo. Kế hoạch tiếp theo đòi hỏi chính quyền thành phố Hải Phòng và các tổ chức phát triển sớm triển khai thử nghiệm các mô hình nuôi ghép sinh thái trong giai đoạn 2016 - 2018, tiến tới nhân rộng mô hình thích ứng bền vững trên toàn dải ven biển miền Bắc đến năm 2020. Hãy cùng khai thác và ứng dụng những kết quả khoa học giá trị của luận văn nhằm kiến tạo tương lai phát triển thịnh vượng và an toàn trước biến đổi khí hậu cho huyện đảo Cát Hải.