Chương 1 BOI CANH HÌNH THÀNH HUONG UOC CAI LƯƠNG HUYỆN PHU XUYEN TỈNH HÀ DONG( 1921-1945) 1. Vài nét về huyện Phú Xuyên 1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên Huyện Phú Xuyên là một trong 30 quận, huyện, thị xã của thủ đô Hà Nội, năm ở phía Đông - Nam. Xuôi theo quốc lộ 1A, Phú Xuyên cách trung tâm thủ đô khoảng 35 km.
Phía Bắc huyện Phú Xuyên giáp hai huyện Thường Tín và Thanh Oai, phía Tây giáp huyện Ứng Hòa, phía Đông giáp hai huyện Khoái Châu và Kim Động (tinh Hưng Yên) qua dòng sông Hồng, phía Nam giáp huyện Duy Tiên (tỉnh Hà Nam) [73; 13]. Với ưu thế nằm ở vị trí cửa ngõ của Thủ đô, là trục kết nối Thủ đô với các tỉnh phía Nam nên theo quy hoạch chung xây dựng Thủ đô đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, Phú Xuyên là một trong 5 đô thị vệ tinh hiện đại của Hà Nội bao gồm Hoà Lạc, Sơn Tây, Xuân Mai, Sóc Sơn, Phú Xuyên. Tính đến ngày 31/12/2020, Phú Xuyên có diện tích đất tự nhiên là 17. Trong đó, diện tích đất nông nghiệp là 11.044,3 ha (chiếm 64,2%), diện tích đất phi nông nghiệp là 6.
Với địa hình bằng phăng và quỹ đất lớn nên Phú Xuyên có nhiều tiềm năng để quy hoạch các cụm công nghiệp, khu đô thị chất lượng cao. Về điều kiện tự nhiên, ngay từ tên gọi “phú”: giàu có, “xuyên”: sông ngòi đã cho thấy Phú Xuyên là khu vực giàu có về sông nước, hồ, ao của trung tâm đồng bằng châu thổ sông Hồng. Thực vậy, do trước đây Phú Xuyên là vùng đất trũng, có cốt đất thấp so với một số đơn vị lân cận, thấp dần về phía Tây, Nam nhưng cao ở phía Bắc, Đông nên hàng năm Phú Xuyên thường bị ngập úng, lụt lội vào mùa mưa. Dé khắc phục vân đê nay, từ bao đời, nhân dân Phú Xuyên 14 luôn ra sức đắp đê chống lụt và đào ao vượt nền để biến những chỗ đất trũng thành những thổ đất cao làm nơi cư trú.
Quá trình này đã tạo ra hiện tượng độc đáo về địa hình khi hình thành nhiều ao hồ, sông ngòi trong khu vực. Chính vi vị thế địa hình và nguồn nước đã khiến thé nhưỡng ở huyện Phú Xuyên cũng mang nét đặc thù riêng khi vùng phía Đông - các xã giáp sông Hồng do ảnh hưởng bồi tụ sông Hồng nên có đất sét pha cát, còn gọi là đất màu. Phú Xuyên có hệ thống giao thông đường thủy và đường bộ quan trọng. Về đường thuỷ, trên địa bàn huyện có hai sông chính là sông Hồng (phía Đông) và sông Nhuệ (ở giữa) chảy từ Bắc xuống Nam chia Phú Xuyên làm 2 phần.
Trong thời kỳ phong kiến đây là được coi là tuyến giao thông đường thủy quan trọng kết nối kinh thành Thăng Long xuôi về phía Nam, nơi các vua quan, nhà buôn và người dân dong thuyền từ Thăng Long xuôi về phía Nam và ngược lại. về đường bộ, Quốc lộ 1A, cao tốc Pháp Vân - Cầu Gié và đường sắt Bắc - Nam chạy dọc huyện, chia Phú Xuyên làm hai vùng phía Đông và Trung - Tây; phía Tây huyện, chạy dọc huyện Ứng Hòa có quốc lộ 2IB; phía Bắc có tỉnh lộ 73 chạy ngang theo hướng Đông - Tây, phía Nam có tỉnh lộ 75 (hay còn gọi là 428) cũng chạy theo hướng Đông - Tây đều kết nối quốc lộ 1A với quốc lộ 21B. Dự án đường trục phía Nam kết nối Hà Đông với cầu Giẽ và các tỉnh phía Nam đang được hoàn thiện kỳ vọng tạo ra sự thay đổi lớn về kết cấu hạ tầng giao thông trong huyện. Ngoài ra, hệ thống giao thông liên xã, liên thôn trước đây rất khó khăn, gần đây được đầu tư phát triển đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống vật chất, tinh than cho nhân dân trong huyện.
Huyện Phú Xuyên chịu ảnh hưởng rõ rệt bởi khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng âm, mưa nhiều vào mùa hè và khô hanh vào mùa đông. Hàng năm, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào khoảng tháng 9, tháng 10 âm lịch. Lượng mưa vào khoảng 40 đến hơn 100 mm, nhưng có năm lên tới 60-200 mm. Nhiệt độ trung bình là 25°C, biên độ dao động từ 22°C - 29°C.
Vào mùa mưa, gió Đông Nam thường thổi mạnh vào chiều tối. Mùa khô bắt đầu từ tháng 10 đến 15 tháng 4 dương lịch, lượng mưa giảm rõ rệt, thời tiết hanh khô, gió mùa Đông Bắc giá rét kèm theo mưa phùn nhẹ, nhiệt độ trung bình khoảng 18°C, biên độ dao động từ 16°C đến 21°C [95; 18-19]. Với đặc điểm khí hậu này, Phú Xuyên có thảm thực vật phong phú, có thé gieo trồng nhiều loại rau màu vụ đông xuân và hè thu. Lich sử hình thành và phát triển Trong tiến trình lịch sử, Phú Xuyên là một đơn vị hành chính có nhiều thay đổi về tên gọi cũng như dién cách hành chính, từ Phù Lưu, Phù Vân, Phú Nguyên cho đến Phú Xuyên.
Tên gọi Phù Lưu với tư cách là một đơn vị hành chính cấp huyện xuất hiện vào khoảng thời Trần (thé kỷ XIID, là một trong ba huyện của châu Thượng Phúc thuộc lộ Đông Đô hay Đại La: Thượng Phúc, Phù Lưu, Long Đàm. Tuy nhiên, những thông tin cụ thể về huyện thì chưa tìm thấy ghi chép nào. Thời thuộc Minh, Phù Lưu là một trong ba huyện (Bảo Phúc, Phù Lưu, Thanh Đàm) của châu Phúc Yên. Đời Lê, Phù Lưu đôi thành Phù Vân, thuộc phủ Thường Tin, tran Sơn Nam.
Khoảng niên hiệu Quang Thiệu (1516-1522), Phù Vân được đổi thành Phú Nguyên. Đời Mạc, khoảng đầu niên hiệu Vĩnh Định (1547), vì kiêng húy tên vua Mạc Phúc Nguyên nên Phú Nguyên được đổi thành Phú Xuyên [130; 21]. Từ đó tên Phú Xuyên tồn tại và gắn bó cho đến ngày nay. Vào đầu thế ky XIX, theo sách Các tran tổng xã danh bị lãm, Phú Xuyên là một trong ba huyện (Thanh Trì, Thượng Phúc, Phú Xuyên) của phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng.
Sau cải cách Minh Mệnh năm 1831, Phú Xuyên thuộc phủ Thường Tín (gồm 3 huyện: Thượng Phúc, Thanh Trì, Phú Xuyên), tỉnh Hà Nội [73; 17]. Theo sách Đồng Khánh dư địa chí, cuỗi thế kỷ XIX, huyện Phú Xuyên có 11 tổng, 84 xã, thôn. Cụ thể: Tổng Hòa Mỹ (5 xã); tổng Lương Xá (5 xã); tong Già Cau (5 xã, trang); tổng Duong Hoàng Trung (5 xã); tổng Đường Xuyên (9 xã, thôn); tổng Thịnh Đức (15 xã, thôn); tổng Mỹ Lâm (9 xã, thôn, trang); 16 tổng Biện Thủy (10 xã, thôn); tổng Khai Thái (5 xã); tổng Mộc Pham (8 xã, trai); tong Chuyên Nghiệp (8 xã, thôn) [73; 18]. Năm 1902, Phú Xuyên thuộc tinh Cau Do, đến năm 1904, thực dân Pháp đi tên tinh Cau Do thành Hà Đông.
Vào dau thé ky XX, theo cuốn Tên làng xã và địa dự các tỉnh Bắc Kỳ của Ngô Vi Liễn [100; 46-47] và cuốn Dia danh và tài liệu hưu trữ về các làng xã Bắc Kỳ thì Phú Xuyên có 10 tong, 72 xã. Cụ thé như sau: TT | Tên làng xã và địa dư các tỉnh Bắc Kỳ Đơn vị hành chính hiện nay (1928) Xã/thôn Tổng Làng Xã/Thị tran I | Giá Cầu Giá Cầu Sơn Thanh | Sơn Hà (Tre) 2_ | Hà Thao nt Thao Nội, | Sơn Ha Thao Ngoai 3 | Lễ Nhuê nt Lé Nhué Tan Dan 4 | Ngai Khê nt Ngai Khê Tan Dan 5 | Sơn Thanh nt Son Thanh Son Hoang 6 | Cô Hoang Hoàng Trung | Cô Hoàng Hoàng Long 7 | Hoàng Đông nt Hoàng Đông Hoàng Long 8 | Hoàng Hạ (Côi) nt Khả Liễu, Nội, | Văn Hoàng Hội 9 | Van Trai nt Thuong, Van Hoang Trung, Ha 10 | Hoang Trung (Vang) nt Thanh Xuyén, | Hoang Long Dao Xa 11 | Vién Hoang nt Vién Hoang Hoang Long 12 | Cô Liêu Khai Thái 13 | Khai Thái nt Khai Thái Khai Thái 14 | Lật Phương nt Lap Phuong Khai Thai 15 | Tam Khé nt Tam Khé Quang Lang 16 | Vinh Xuan 17 17 | Bat Nao (Neo) 18 | Đồng Phố Luong Xá Đồng Phô Tân Dân 19 | Lương Xá nt Tạ Xa, Văn | Đại Thang Hội, An Mỹ 20 | Phù Đôi nt Phú Đôi Đại Thang 21 | An Khoái Mỹ Lâm An Khoái Phúc Tiên 22 | Cô Châu nt Cô Châu Nam Phong 23 | Đại Đồng nt Đông, Doai, | Thi tran Phú Dai Nam Xuyén 24 | Mỹ Lâm (Lim) nt My Lam Thi tran Pha Xuyén 25 | Nam Phú nt Nam Phú Nam Phong 26 | Nam Quat (Vu Quat) nt Nam Quat Nam Triéu 27 | Phong Triéu nt Phong Triéu Nam Triéu 28 | Phú Mỹ (Sở) nt Phú Mỹ Thị trấn Phú Xuyên 29 |Thao Chính (Phố nt Thao Chinh Thị trấn Phú Gièn) Xuyên 30 Ứng Hòa nt Ung Hoa Phúc Tiến 31 | Giới Đức (kẻ S1) Thịnh Đức Hạ 32 | Nam Chính 33 | Quan Châm 34 | Thịnh Đức Cau 35 | Thinh Đức Hạ (Hạ Gié) 36 | Thinh Duc Phung 37 | Thịnh Đức Than 38 | Thịnh Đức Thượng 39 | Bồi Khê Thịnh Đức | Bồi Khê Chuyên Mỹ Thượng 40 | Chuyên Mỹ Ngô nt Ngọ Chuyên Mỹ 18 41 |Chuyện Mỹ Thượng nt Thuong Chuyén My Hạ (Chuôn) 42 | Chuyên Mỹ Trung nt Trung Chuyén My 43 | Déng Vinh nt Đồng Vinh Chuyén My 44 | Kim Ling nt Kim Long | Hoang Long Thuong 45 | Nhị Khê nt Nhi Khé Hoang Long 46 | Ba Lai Thuong Xuyén Dai Xuyén 47 | Cau Đoài (Guột) nt Cau Gie Dai Xuyén 48 | Cau Đông nt Kiéu Dong, | Dai Xuyén Kiéu Doai 49 | Co Trai nt Cô Trai Dai Xuyén 50 | Da Chat nt Da Chat Dai Xuyén 51 | Thuong An 52 | Thuong Xuyén Thai nt Dai Xuyén (Thai Thén) 53 | Thường Xuyên Thượng 54 | Từ Thuận nt Tu Thuan Van Tu 55 | Văn Hoang 56 | Hoang Luu Hoa My Hoang Xá Phú Túc 57 | Tri Chi (Chay) nt Tri Chi Tri Trung 58 | Trung Lập (Sộp) nt Trung Lap Tri Trung 59 | Tu San nt Tu san Phú Túc 60 | Bái Đô Tri Thủy Bái Đô Tri Thủy 61 |Bái Xuyên (Bai nt Bái Xuyên Minh Tân Vàng) 62 | Đạo Nguyên 63 | Đồng Lạc nt Đồng Lạc Minh Tân 64 | Khả Liêu 65 | Kim Quy nt Kim Quy Minh Tan 19 66 | Mai Trang Mỗ 67 | Nhân Sơn nt Nhân Sơn Tri Thuy 68 | Phúc Lam nt Phúc Lam Phuc Tién 69 | Thanh Lap nt Thanh Lap Minh Tan 70 | Than Quy 71 | Tri Thủy (Biển) nt Tri Thuy Tri Thủy 72 | Vĩnh Ninh nt Vinh Ninh Tri Thuy Năm 1965, sau khi tinh Ha Đông sáp nhập với Sơn Tay thành Ha Tây, Phú Xuyên thuộc tỉnh Hà Tây.