CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về Ngân hàng thương mại và nguồn vốn của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về ngân hàng thương mại và các hoạt động kinh doanh chủ yếu của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Ngân hàng thương mại Kinh doanh ngân hàng được biết đến từ thời xa xưa, với những nghiệp vụ sơ khai ban đầu là nhận bảo quản, gìn giữ các loại tài sản quý như vàng, bạc, tiền, giấy tờ có giá.
Do nhu cầu ngày càng tăng, dần dần trong xã hội hình thành những tổ chức thực hiện các nghiệp vụ đa dạng hơn như nhận bảo quản tài sản quý, đổi tiền, thanh toán, cho vay. Đó cũng chính là mầm mống các NHTM ngày nay. Cho đến nay, trên phương diện học thuật, vẫn còn tồn tại một số quan điểm khác nhau giữa các nhà nghiên cứu về khái niệm NHTM. Tuy nhiên, có thể thấy cách tiếp cận khá phổ biến của nhiều nhà nghiên cứu khi đưa ra khái niệm NHTM đều xuất phát từ những nghiệp vụ truyền thống của ngân hàng như nhận tiền gửi, cho vay và thanh toán.Myshkin, 1992) NHTM là một trung gian tài chính có chức năng dẫn vốn từ nơi có khả năng cung ứng vốn đến những nơi có nhu cầu về vốn, từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn nhằm tạo điều kiện cho đầu tư, phát triển kinh tế.
(Nguyễn Duệ, 2001), (Trịnh Thị Hoa Mai, 2004) Tuy nhiên, do đặc thù về văn hóa, phong tục tập quán hay sự khác biệt thông lệ ở các quốc gia, do tính đa dạng của các loại hình ngân hàng, do tính phức tạp của các nghiệp vụ ngân hàng, khái niệm NHTM có khác biệt ở các quốc gia trên thế giới. Chẳng hạn: Tại Mỹ, NHTM có thể được hiểu là một tổ chức cung cấp tài khoản tiền gửi cho khách hàng rút tiền theo yêu cầu, thực hiện cho vay đối với các tổ chức kinh doanh hay cho vay thương mại. Tại Đài Loan, thuật ngữ NHTM được quy định trong Luật Ngân hàng, là ngân hàng có chức năng chính là nhận tiền gửi tài khoản 8 séc và cấp tín dụng ngắn hạn. Tại Pháp, luật Ngân hàng quy định NHTM là những xí nghiệp , cơ sở hành nghề thường xuyên nhận tiền của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác.
Số tiền mà họ dùng vào các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính. (Lê Thị Mận, 2010) Một cách định nghĩa khác của Peters.Rose cho thấy: “ NHTM là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán- và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”.Rose, 1999, trang 7) Ở Việt Nam, tại điều 4.3, Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam số 47/2010/QH12 do Quốc hội khoá XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2010, định nghĩa: “NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. (Luật các TCTD số 47/2010/QH12, 2010, trang 2-3) Một cách tổng quát, có thể nói NHTM là một trong những định chế tài chính, doanh nghiệp đặc biệt cung cấp các dịch vụ tài chính như là nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm, cho vay tiền, cung cấp các dịch vụ, phương thức thanh toán, chuyển tiền. Ngoài ra, NHTM cũng có thể cung cấp các dịch vụ khác để thoả mãn nhu cầu của khách hàng.
Hoạt động kinh doanh chủ yếu của NHTM a. Hoạt động huy động vốn Hoạt động huy động vốn là hoạt động thường xuyên của NHTM. Bất kỳ một NHTM nào cũng phải bắt đầu hoạt động bằng việc tiến hành huy động vốn. Đối tượng chính các NHTM huy động là lượng tiền nhàn rỗi của các tổ chức kinh tế, dân chúng.
Nguồn vốn có vai trò lớn nhất và chiếm tỷ trọng cao nhất của NHTM là tiền gửi của khách hàng. Các NHTM có thể nhận tiền gửi của các cá nhân đơn lẻ, của các công ty, hợp tác xã, các quỹ hoặc tổ chức kinh tế xã hội khác, thậm chí huy động tiền từ các ngân hàng khác. Ngoài hoạt động nhận tiền gửi, các NHTM còn có thể huy động vốn bằng cách phát hành giấy tờ có giá như phát hành kỳ phiếu, tín 9 phiếu, trái phiếu,…hoặc vay vốn của các tổ chức tín dụng và Ngân hàng Nhà nước. Các hoạt động huy động vốn trên đây hình thành nên tài sản nợ của ngân hàng và ngân hàng phải có trách nhiệm chi trả đối với tất cả các nguồn vốn huy động được theo yêu cầu của khách hàng.
Quy mô và cơ cấu nguồn vốn quyết định đến hoạt động của ngân hàng. Do đó quản lý nguồn vốn phù hợp và sử dụng vốn có hiệu quả là một vấn đề mang tính chiến lược đối với mỗi ngân hàng. Hoạt động sử dụng vốn Khi đã huy động được vốn, nắm trong tay một số tiền nhất định thì các NHTM phải có phương án để hiệu quả hoá những nguồn vốn này, nghĩa là tìm cách để những khoản tiền đó được đầu tư đúng nơi, đúng chỗ, có hiệu quả, an toàn, đem lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng. Phương án giải quyết là hoạt động “cấp tín dụng” - một nghiệp vụ quan trọng của các NHTM.14, Luật các Tổ chức Tín dụng Việt Nam, số 47/2010/QH12, hiệu lực từ ngày 16/6/2010: “ Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”.
Hoạt động thanh toán và ngân quỹ Trong các dịch vụ này, ngân hàng không đứng vai trò là con nợ hay chủ nợ mà đứng ở vị trí trung gian thanh toán, giúp quá trình thanh toán của khách hàng dễ dàng, thuận tiện, đảm bảo an toàn. Hoạt động trung gian gồm rất nhiều loại dịch vụ khác nhau: như dịch vụ thu hộ chi hộ cho khách hàng, dịch vụ chuyển khoản; dịch vụ chi lương cho các doanh nghiệp có nhu cầu; dịch vụ khấu trừ tự động; dịch vụ thanh toán quốc tế,… Tóm lại, các hoạt động của NHTM có quan hệ mật thiết, tác động hỗ trợ thúc đẩy nhau phát triển. Có huy động vốn hiệu quả, xây dựng được nguồn vốn lớn thì mới tạo được tiền đề cho nghiệp vụ cho vay, khi cho vay có hiệu quả phát triển kinh tế thì xã hội mới có nguồn vốn để ngân hàng huy động vào, đồng thời muốn thu hút khách hàng tìm đến sử dụng dịch vụ của ngân hàng thì phải thực hiện tốt hoạt động thanh toán và 10 ngân quỹ, chính sự kết hợp đồng bộ đó tạo thành quy luật trong hoạt động của ngân hàng và tạo thành xu hướng kinh doanh tổng hợp đa năng của các NHTM. Nguồn vốn của Ngân hàng thương mại: Nguồn vốn của ngân hàng thương mại bao gồm 2 loại chính: Vốn chủ sở hữu và vốn nợ.
Mỗi loại vốn đều có tính chất và vai trò riêng tác động nhất định đến hoạt động kinh doanh của NHTM. Vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu là lượng vốn thuộc quyền sở hữu của ngân hàng thương mại. Để một ngân hàng được pháp luật cho phép hoạt động, chủ ngân hàng phải có trước một lượng vốn nhất định. Đây là loại vốn ngân hàng có thể sử dụng để hình thành tổ chức hoạt động, xây dựng dịch vụ, trang thiết bị, cơ sở vật chất, nhà cửa… cho ngân hàng.
Vốn chủ sở hữu của NHTM gồm: vốn cấp 1 và vốn cấp 2. Vốn cấp 1 bao gồm vốn điều lệ, quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính, quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ, lợi nhuận không chia. Vốn điều lệ là loại vốn được ghi trong điều lệ hoạt động của ngân hàng thương mại. Tùy theo tính chất của mỗi ngân hàng mà nguồn gốc hình thành vốn ban đầu khác nhau.
Nếu là ngân hàng thuộc sở hữu Nhà nước, ngân sách Nhà nước cấp (vốn của Nhà nước). Nếu là ngân hàng cổ phần thì do các cổ đông đóng góp thông qua mua cổ phần hoặc cổ phiếu. Ngân hàng liên doanh do các bên liên doanh góp. Ngân hàng tư nhân là vốn thuộc sở hữu tư nhân.
Vốn điều lệ của từng loại ngân hàng thương mại không được thấp hơn mức vốn phát định mà pháp luật quy định cho từng loại ngân hàng thương mại. Các quỹ dự trữ: Để duy trì và mở rộng hoạt động kinh doanh các NHTM được trích lập các quỹ dự trữ. Tùy theo quy định của từng thời kỳ về mức độ trích lập, quy mô, mục đích sử dụng. Quỹ bổ sung vốn điều lệ hàng năm được trích theo tỷ lệ nhất định từ lợi nhuận sau thuế (theo nghị định 146/NĐ/CP ngày 23/11/2005 mức trích lập là 5% lợi nhuận sau thuế, mức tối đa của quỹ này bằng mức vốn điều lệ thực có).
Quỹ dự phòng tài chính là các khoản dự phòng tổn thất, được trích lập hàng năm để bù đắp thua lỗ (mức dự trữ nhỏ hơn hoặc bằng 25% vốn điều lệ của 11 NHTM). Ngoài ra còn các quỹ đầu tư phát triển, quỹ lợi nhuận không chia,… các quỹ này được trích lập và sử dụng theo nhu cầu của ngân hàng và quy định của pháp luật. Vốn cấp 2 bao gồm các khoản như giá trị tăng thêm của tài sản cố định được định giá lại theo quy định của pháp luật (50% phần giá trị tăng thêm của tài sản cố định được định giá lại); giá trị tăng thêm của các loại chứng khoán đầu tư được đánh giá lại theo quy định (40% phần giá trị tăng thêm của loại chứng khoán đầu tư); trái phiếu chuyển đổi hoặc cổ phiếu ưu đãi do tổ chức tín dụng phát hành thỏa mãn các điều kiện theo quy định; các công cụ nợ khác đáp ứng các điều kiện của pháp luật; quỹ dự phòng chung (tối đa bằng 1,25% tổng tài sản có rủi ro). Mỗi ngân hàng có nguồn hình thành vốn chủ sử hữu khác nhau tuỳ theo tính chất, năng lực tài chính của chủ ngân hàng, yêu cầu và sự phát triển của thị trường.
Đây là nguồn vốn khá quan trọng, nó tạo uy tín cho chính ngân hàng; đồng thời, tạo được cảm giác an toàn cho khách hàng khi đến giao dịch. Vốn nợ Vốn nợ của NHTM được tạo lập bằng cách huy động từ tiền gửi, phát hành các giấy tờ có giá, vay của các tổ chức tín dụng khác, vay của Ngân hàng trung ương và từ các nguồn khác.