phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục, luận văn còn có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về công tác xã hội trong hỗ trợ tâm lý cho ngƣời chăm sóc thay thế Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ tâm lý cho ngƣời chăm sóc thay thế tại Làng trẻ em SOS Hà Nội Chƣơng 3: Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả các hoạt động công tác xã hội trong việc hỗ trợ tâm lý cho ngƣời chăm sóc thay thế tại Làng Trẻ em SOS Hà Nội. 10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ TÂM LÝ CHO NGƢỜI CHĂM SÓC THAY THẾ 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Một số khái niệm liên quan đến chăm sóc thay thế 1.
Khái niệm chăm sóc thay thế Theo Điều 4, Luật trẻ em năm 2016: “Chăm sóc thay thế là việc tổ chức, gia đình, cá nhân nhận trẻ em về chăm sóc, nuôi dƣỡng khi trẻ em không còn cha mẹ; trẻ em không đƣợc hoặc không thể sống cùng cha đẻ, mẹ đẻ; trẻ em bị ảnh hƣởng bởi thiên tai, thảm họa, xung đột vũ trang nhằm bảo đảm sự an toàn và lợi ích tốt nhất của trẻ em”. Khái niệm người chăm sóc thay thế Ngƣời chăm sóc thay thế là ngƣời đảm nhận nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dƣỡng trẻ em khi trẻ em không còn cha mẹ; trẻ em không đƣợc hoặc không thể sống cùng cha đẻ, mẹ đẻ; trẻ em bị ảnh hƣởng bởi thiên tai, thảm họa, xung đột vũ trang nhằm đảm bảo sự an toàn và lợi ích tốt nhất của trẻ em. Các yêu cầu đối với việc thực hiện chăm sóc thay thế Theo Điều 60, Mục 3 Luật trẻ em năm 2016 [18], các yêu cầu đối với việc thực hiện chăm sóc thay thế cụ thể nhƣ sau: “1. Phải dựa trên nhu cầu, hoàn cảnh, giới tính, dân tộc, tôn giáo, ngôn ngữ của trẻ em và bảo đảm quyền của trẻ em.
Bảo đảm an toàn cho trẻ em, đảm bảo ổn định, liên tục và gắn kết giữa trẻ em với ngƣời chăm sóc trẻ em. Phải xem xét ý kiến, nguyện vọng, tình cảm, thái độ của trẻ em tùy theo độ tuổi và mức độ trƣởng thành của trẻ em; trƣờng hợp trẻ em từ đủ 07 tuổi trở lên phải lấy ý kiến của trẻ em. Ƣu tiên trẻ em đƣợc chăm sóc thay thế bởi ngƣời thân thích. Trƣờng hợp trẻ em có anh, chị, em ruột thì đƣợc ƣu tiên sống cùng nhau.
Bảo đảm duy trì liên hệ, đoàn tụ giữa trẻ em với cha mẹ, các thành viên khác trong gia đình khi có đủ điều kiện, trừ trƣờng hợp việc liên hệ, đoàn tụ không bảo đảm an toàn, không vì lợi ích tốt nhất của trẻ em”. Các hình thức chăm sóc thay thế Theo điều 61, mục 03 Luật trẻ em năm 2016 [18] nêu rõ các hình thức chăm sóc thay thế, cụ thể: “1. Chăm sóc thay thế bởi ngƣời thân thích 2. Chăm sóc thay thế bởi cá nhân, gia đình không phải là ngƣời thân thích 3.
Chăm sóc thay thế bằng hình thức nhận con nuôi Việc nuôi con nuôi đƣợc thực hiện theo quy định của pháp luật về nuôi con nuôi. Chăm sóc thay thế tại cơ sở trợ giúp xã hội” 1. Trách nhiệm và quyền của người nhận chăm sóc thay thế Theo điều 64, mục 03 Luật trẻ em năm 2016 [18] chỉ rõ: “1. Ngƣời nhận chăm sóc thay thế có trách nhiệm sau đây: a) Bảo đảm điều kiện để trẻ em đƣợc sống an toàn, thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em phù hợp với Điều kiện của ngƣời nhận chăm sóc thay thế; b) Thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cƣ trú về tình hình sức khỏe thể chất, tinh thần, sự hòa nhập của trẻ em sau 06 tháng kể từ ngày nhận chăm sóc thay thế và hàng năm; trƣờng hợp có vấn đề đột xuất, phát sinh thì phải thông báo kịp thời.
Ngƣời nhận chăm sóc thay thế có quyền sau đây: 12 a) Đƣợc ƣu tiên vay vốn, dạy nghề, hỗ trợ tìm việc làm để ổn định cuộc sống, chăm sóc sức khỏe khi gặp khó khăn; b) Đƣợc hỗ trợ kinh phí chăm sóc, nuôi dƣỡng trẻ em quy định của pháp luật và đƣợc nhận hỗ trợ của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân để thực hiện việc chăm sóc thay thế. Khái niệm tâm lý, hỗ trợ tâm lý 1. Khái niệm tâm lý Tâm lý xã hội là một phạm trù rất rộng, có thể hiểu theo nhiều góc độ khác nhau. Theo quan điểm triết học thì tâm lý xã hội là “toàn bộ tình cảm, ý chí, tâm trạng, thói quen, truyền thống thể hiện trong tâm lý của các nhóm xã hội, các giai cấp, các dân tộc, nhân dân các nƣớc đó có chung những điều kiện kinh tế - xã hội trong đời sống của họ” [22] Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, tâm lý xã hội là “toàn bộ những tình cảm, tâm trạng, quan niệm, thị hiếu, thiên hƣớng, hứng thú… đa dạng, có tính khoa học và không khoa học, logic và không logic, thể hiện trong tâm lý của các nhóm xã hội, giai cấp dân tộc, nhân dân các nƣớc, đã hình thành trong những điều kiện kinh tế - xã hội lịch sử chung nhƣ nhau” [3] Tác giả Tiêu Thị Minh Hƣờng đƣa ra một khái niệm chung về tâm lý xã hội nhƣ sau: “Hiện tƣợng tâm lý xã hội là những hiện tƣợng tâm lý chung của một nhóm xã hội cụ thể, nảy sinh từ tác động qua lại trong hoạt động và giao tiếp giữa các cá nhân trong nhóm, chi phối thái độ, hành vi của họ khi ở trong nhóm”.
Khái niệm hỗ trợ tâm lý Để hiểu đƣợc khái niệm hỗ trợ tâm lý, trƣớc tiên cần hiểu thế nào là hỗ trợ, các hoạt động hỗ trợ, sau đó đến hỗ trợ tâm lý. Theo cách hiểu thông thƣờng thì hỗ trợ là công việc, hoạt động, suy nghĩ của cá nhân/tổ chức nhằm giúp đỡ một ngƣời hoặc nhóm ngƣời vƣợt qua vấn đề mà họ đang gặp phải 13 bằng các phƣơng thức khác nhau bao gồm cả về thể chất, tinh thần, tiền bạc để nhằm khơi dậy tiềm lực của ngƣời đó để họ có đủ khả năng đƣơng đầu với hoàn cảnh khó khăn. Hỗ trợ tâm lý đƣợc hiểu tổng thể là các biện pháp, hoạt động của các tổ chức/cá nhân nhƣ tƣ vấn, tham vấn tâm lý, trị liệu phục hồi tinh thần, hƣớng dẫn cách vƣợt qua khủng hoảng… để họ cảm thấy thoải mái, vui vẻ, lạc quan trong cuộc sống. Khái niệm trẻ em Có nhiều định nghĩa khác nhau về trẻ em tùy theo góc độ tiếp cận mà các quốc gia, tổ chức đƣa ra những định nghĩa khác nhau về trẻ em nhƣng căn cứ để đƣa ra định nghĩa về trẻ em có những điểm chung là căn cứ vào độ tuổi, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều lấy độ tuổi trẻ em là dƣới 18 tuổi, chỉ có khoảng 05 quốc gia lấy độ tuổi thấp hơn là 16 hoặc 17.
Theo Công ƣớc Liên hợp quốc về quyền trẻ em (CRC): “Trẻ em có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó có quy định tuổi thành niên sớm hơn” [11] Theo Luật trẻ em năm 2016 đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIII quy định: “Trẻ em là những người dưới 16 tuổi” [18] Trong phạm vi của đề tài, học viên sử dụng khái niệm trẻ em theo Luật trẻ em năm 2016: “Trẻ em là những người dưới 16 tuổi” 1. Khái niệm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Những đối tƣợng thuộc nhóm trẻ có hoàn cảnh đặc biệt sẽ dựa vào tình hình kinh tế - xã hội từng quốc gia và những giai đoạn phát triển kinh tế của đất nƣớc, dựa vào đặc điểm văn hóa của mỗi dân tộc… Chính vì vậy, ở các nƣớc khác nhau, hoặc trong một đất nƣớc nhƣng ở từng giai đoạn khác nhau cũng có quan niệm khác nhau về trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. 14 Theo Điều 3, Luật Bảo vệ trẻ em năm 2004: “Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện thực hiện quyền được sống, quyền được bảo vệ, quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, quyền học tập, cần có sự hỗ trợ, can thiệp đặc biệt của Nhà nước, gia đình và xã hội để được an toàn, hòa nhập gia đình, cộng đồng” [18] Năm 2016, quan niệm về nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt có sự thay đổi. Theo khoản 1, điều 10, Luật trẻ em năm 2016: Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt bao gồm 14 đối tƣợng [18]: 1.
Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ; 2. Trẻ em bị bỏ rơi; 3. Trẻ em không nơi nƣơng tựa; 4. Trẻ em khuyết tật; 5.
Trẻ em nhiễm HIV/AIDS; 6. Trẻ em vi phạm pháp luật; 7. Trẻ em nghiện ma túy; 8. Trẻ em phải bỏ học kiếm sống khi chƣa hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở; 9.
Trẻ em bị tổn hại nghiêm trọng về thể chất và tinh thần do bị bạo lực; 10. Trẻ em bị bóc lột; 11. Trẻ em bị xâm hại tình dục; 12. Trẻ em bị mua bán; 13.
Trẻ em di cƣ, trẻ em lánh nạn, tị nạn, chƣa xác định đƣợc cha mẹ hoặc không có ngƣời chăm sóc; 14. Trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo hoặc bệnh phải điều trị dài ngày thuộc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo 1. Khái niệm trẻ em mồ côi 15 Theo quy định tại Nghị định số 07/2000/NĐ-CP ngày 09 tháng 3 năm 2000 về “Chính sách cứu trợ xã hội”: “Trẻ em mồ côi là trẻ em dƣới 16 tuổi, mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc bị bỏ rơi, bị mất nguồn nuôi dƣỡng và không còn ngƣời thân thích để nƣơng tựa; trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ nhƣng ngƣời còn lại là mẹ hoặc cha mất tích theo quy định tại Điều 88 Bộ luật Dân sự hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dƣỡng theo quy định của pháp luật” [2] 1. Khái niệm công tác xã hội Hội đồng Đào tạo công tác xã hội Mỹ định nghĩa: “Công tác xã hội là một nghề nhằm tăng cường các chức năng xã hội của cá nhân, hay nhóm người bằng những hoạt động tập trung vào can thiệp mối quan hệ xã hội để thiết lập sự tương tác giữa con người và môi trường có hiệu quả”.
Hoạt động này bao gồm ba nhóm: phục hồi năng lực bị hạn chế, cung cấp nguồn lực cá nhân và xã hội và phòng ngừa sự suy giảm chức năng xã hội.