CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT THANH TOÁN VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC 1. Vốn đầu tư XDCB 1. Khái niệm đầu tư XDCB Đầu tư theo nghĩa rộng có nghĩa là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm đem lại cho nhà đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai mà kết quả này thường phải lớn hơn các chi phí về các nguồn lực bỏ ra. Theo nghĩa hẹp, đầu tư chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nhà đầu tư hoặc xã hội kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được kết quả đó.
Theo Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13(2015) của Việt Nam: Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan [14]. Xây dựng cơ bản là hoạt động có chức năng tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định (TSCĐ) có tổ chức sản xuất và không có tổ chức sản xuất các ngành kinh tế thông qua các hoạt động xây dựng mới, xây dựng mở rộng, xây dựng lại, hiện đại hóa hay khôi phục các TSCĐ. Đầu tư XDCB là một bộ phận của hoạt động đầu tư, đó là việc bỏ vốn để tiến hành các hoạt động XDCB nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các TSCĐ nhằm phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân. Đặc điểm Bản chất đặc trưng của vốn đầu tư XDCB từ NSNN là gắn với hoạt động XDCB và gắn hoạt động của NSNN, nguồn vốn đầu tư XDCB từ NSNN có e 13 những đặc điểm sau: - Vốn đầu tư XDCB gắn với hoạt động NSNN nói chung và hoạt động chi NSNN nói riêng, gắn với quản lý và sử dụng vốn theo phân cấp chi NSNN cho đầu tư phát triển, do đó việc hình thành, phân bổ, sử dụng và thanh toán được thực hiện chặt chẽ theo Luật định, được Quốc hội phê chuẩn và Hội đồng Nhân dân các cấp phê duyệt hàng năm; - Vốn đầu tư XDCB từ NSNN được sử dụng chủ yếu để đầu tư cho các công trình, dự án không có khả năng thu hồi vốn và các công trình hạ tầng kỹ thuật, phúc lợi của xã hội theo quy định của Luật NSNN và các Luật khác.
Do đó việc đánh giá hiệu quả sử dụng của nguồn vốn này mang tính toàn diện, trên cơ sở đánh giá tác động cả về kinh tế, xã hội và môi trường; - Vốn đầu tư XDCB từ NSNN gắn với các quy trình đầu tư, từ khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư đến khâu kết thúc dự án, nghiệm thu đưa vào sử dụng. Việc sử dụng nguồn vốn này gắn với quá trình thực hiện và quản lý các dự án đầu tư, từ khâu quy hoạch, thiết kế đến thi công, nghiệm thu và sử dụng, bảo trì sau đầu tư; - Vốn đầu tư XDCB từ NSNN được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau trong nước cũng như ngoài nước và đối tượng sử dụng cũng rất đa dạng, bao gồm cả các cơ quan nhà nước và các tổ chức ngoài nhà nước. Từ những đặc điểm trên chúng ta nhận thấy vốn đầu XCDB từ NSNN có tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế cũng như sự phát triển của toàn xã hội. Chính vì vậy, quản lý chi đầu tư XDCB của NSNN cần phải có những nguyên tắc, biện pháp và trình tự quản lý, cấp phát vốn riêng dựa trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc quản lý chi NSNN nói chung và được vận dụng phù hợp với đặc điểm của đầu tư XDCB.
Vai trò Vốn đầu tư XDCB là một phần của vốn đầu tư phát triển của NSNN, e 14 được hình thành từ sự huy động của nhà nước dùng để chi cho đầu tư XDCB nhằm xây dựng và phát triển cơ sở vật chất – kỹ thuật và kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội cho nền kinh tế quốc dân. Vốn đầu tư XDCB tạo ra của cải vật chất cho xã hội và có xu hướng ngày càng lớn dần trong nền kinh tế sẽ giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển phù hợp với định hướng của nhà nước. Vốn đầu tư XDCB tác động đến sự phát triển khoa học công nghệ của đất nước thông qua việc chuyển giao công nghệ, mua sắm trang thiết bị công nghệ mới. Đầu tư XDCB tác động đến sự ổn định kinh tế tạo công ăn việc làm cho người lao động.
Vốn đầu tư XDCB có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xã hội, tạo động lực thúc đẩy phát triển đất nước; góp phần nâng cao vị thế chính trị và kinh tế của quốc gia trên trường Quốc tế. Nguồn hình thành vốn đầu tư XDCB Theo Luật NSNN số 83/2015/QH13 ngày 25/6/2015[15], Nghị định số 163/2016/NĐ-CP ngày 21/12/2016 của Chính phủ [16], Thông tư 342/2016/TT-BTC ngày 30/12/2016 của Bộ Tài chính [31] thì vốn đầu XDCB của NSNN được hình thành từ các nguồn sau: * Nguồn trong nước : Đây là nguồn vốn có vai trò quyết định tới sự phát triển kinh tế của đất nước, nguồn này chiếm tỷ trọng lớn, nó bao gồm từ các nguồn sau : - Vốn ngân sách nhà nước: Gồm ngân sách Trung ương và ngân sách Địa phương, được hình thành từ sự tích luỹ của nền kinh tế, vốn khấu hao cơ bản và một số nguồn khác dành cho đầu tư xây dựng cơ bản. - Vốn tín dụng đầu tư ( do Ngân hàng Đầu tư & Phát triển và Qũy hỗ trợ phát triển quản lý) gồm : Vốn của nhà nước chuyển sang, vốn huy động từ các e 15 đơn vị kinh tế và các tầng lớp dân cư, dưới các hình thức, vốn vay dài hạn của các tổ chức tài chính tín dụng Quốc tế và người Việt Nam ở nước ngoài. - Vốn của các đơn vị sản xuất kinh doanh , dịch vụ thuộc các thành phần kinh tế khác.
*Vốn nước ngoài: Nguồn này có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình đầu tư Xây dựng cơ bản và sự phát triển kinh tế của mỗi Quốc gia. Nguồn này bao gồm: Vốn viện trợ của các tổ chức Quốc tế như WB, ADB, các tổ chức Chính phủ như JBIC (OECF), các tổ chức phi Chính phủ (NGO). Đây là nguồn (ODA). Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua hình thức 100 % vốn nước ngoài, liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Chi đầu tư xây dụng cơ bản 1. Khái niệm chi đầu tư XDCB Chi đầu từ xây dựng cơ bản của NSNN là các khoản chi để đầu tư xây dựng các công trình thuộc kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng thu hồi vốn, các công trình của các doanh nghiệp nhà nước đầu tư theo kế hoạch được duyệt, các dự án quy hoạch vùng và lãnh thổ nhằm mục đích tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân trong toàn xã hội. Đặc điểm chi đầu tư XDCB - Chi đầu tư XDCB là một khoản chi chiếm tỷ trọng lớn trong NSNN hàng năm; quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư thường rất lớn. - Thời kỳ đầu tư kéo dài: Thời kỳ đầu tư tính từ khi khởi công thực hiện dự án đến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động.
- Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài: Thời gian này tính từ khi đưa công trình vào hoạt động cho đến khi hết thời hạn hoạt động và đào e 16 thải công trình. - Các thành quả của hoạt động đầu tư là các công trình xây dựng, thường phát huy tác dụng ở ngay tại nơi nó được tạo dựng nên. - Do quy mô vốn đầu tư lớn, thời kỳ đầu tư kéo dài và thời gian vận hành các kết quả đầu tư cũng kéo dài nên hoạt động đầu tư có độ rủi ro cao. Phân loại chi đầu tư XDCB Thứ nhất: Phân loại theo tính chất chi phí - Chi phí xây dựng: Gồm chi phí phá dỡ các công trình xây dựng, chi phí san lấp mặt bằng xây dựng, chi phí xây dựng các công trình, hạng mục công trình, xây dựng công trình tạm, công trình phụ trợ phục vụ thi công.
- Chi phí thiết bị: Gồm chi phí mua sắm thiết bị công trình và thiết bị công nghệ; chi phí đào tạo và chuyển giao công nghệ (nếu có); chi phí lắp đặt, thí nghiệm, hiệu chỉnh; chi phí vận chuyển, bảo hiểm; thuế và các loại phí, chi phí liên quan khác. - Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng: Gồm chi phí tư vấn khảo sát, lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi (nếu có), lập báo cáo nghiên cứu khả thi, lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật, chi phí thiết kế, chi phí tư vấn giám sát xây dựng công trình và các chi phí tư vấn khác liên quan. - Chi phí quản lý dự án: Gồm các chi phí để tổ chức thực hiện các công việc quản lý dự án từ giai đoạn chuẩn bị dự án, thực hiện dự án và kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng. - Chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư: Gồm chi phí bồi thường về đất, nhà, công trình trên đất, các tài sản gắn liền với đất, trên mặt nước và chi phí bồi thường khác theo quy định; các khoản hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất; chi phí tái định cư; chi phí tổ chức bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; chi phí sử dụng đất trong thời gian xây dựng (nếu có); chi phí chi trả cho phần hạ tầng kỹ thuật đã được đầu tư xây dựng (nếu có) và các chi phí có liên quan khác.