Luận văn Thạc sĩ: hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về du lịch tỉnh quảng trị

Luận văn thạc sĩ phân tích và đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về du lịch tỉnh Quảng Trị, góp phần phát triển bền vững.

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Tác giả

Phan Văn Thắng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

141
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Cách quản lý nhà nước về du lịch tỉnh Quảng Trị hiệu quả

Công tác quản lý nhà nước về du lịch tại tỉnh Quảng Trị đóng vai trò then chốt trong việc định hướng và thúc đẩy ngành kinh tế mũi nhọn. Quảng Trị sở hữu vị trí địa lý chiến lược trên Hành lang kinh tế Đông - Tây, kết nối Việt Nam với các nước tiểu vùng sông Mê Kông. Việc thực hiện chính sách phát triển du lịch đồng bộ giúp địa phương khai thác tối đa lợi thế về tài nguyên du lịch Quảng Trị. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo thông qua việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và quy hoạch dài hạn. Quản lý hiệu quả đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền và cộng đồng doanh nghiệp. Mục tiêu cuối cùng là hướng tới sự phát triển du lịch bền vững, bảo tồn giá trị văn hóa và nâng cao đời sống nhân dân. Một hệ thống quản lý minh bạch sẽ tạo môi trường đầu tư thông thoáng, thu hút các nguồn lực xã hội hóa. Tỉnh cần tập trung vào việc chuẩn hóa các thủ tục hành chính và nâng cao năng lực điều hành của bộ máy chuyên trách. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng dịch vụ đòi hỏi những đột phá trong tư duy quản lý hiện đại.

1.1. Khái niệm và vai trò quản lý nhà nước về du lịch

Quản lý nhà nước về du lịch là phương thức tác động bằng pháp luật, kế hoạch và chính sách để định hướng hoạt động du lịch phát triển theo mục tiêu nhất định. Tại Quảng Trị, vai trò này giúp điều hòa lợi ích giữa kinh tế, văn hóa và môi trường. Nhà nước không chỉ quản lý mà còn hỗ trợ, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế tham gia kinh doanh dịch vụ.

1.2. Vị trí địa lý và tiềm năng du lịch tỉnh Quảng Trị

Quảng Trị nằm ở trung điểm đất nước, là đầu mối giao thông quan trọng với các tuyến Quốc lộ 1A và Đường Hồ Chí Minh. Đặc biệt, tuyến đường xuyên Á qua cửa khẩu quốc tế Lao Bảo mở ra cơ hội lớn cho du lịch Caravan. Địa phương sở hữu hệ thống di tích lịch sử cách mạng đồ sộ và các bãi biển nguyên sơ, tạo nền tảng vững chắc cho các sản phẩm du lịch đặc trưng.

II. Thách thức hoàn thiện quản lý nhà nước về du lịch Quảng Trị

Dù có nhiều tiềm năng, công tác quản lý nhà nước về du lịch tại địa phương vẫn đối mặt với nhiều rào cản lớn. Sự phát triển du lịch thời gian qua còn mang tính manh mún, chưa xứng tầm với tiềm năng vốn có. Hạ tầng kỹ thuật du lịch tại các điểm tham quan còn chậm đổi mới và thiếu tính đồng bộ. Các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn chủ yếu có quy mô nhỏ, năng lực cạnh tranh còn hạn chế. Đặc biệt, sự cố môi trường biển năm 2016 đã gây ảnh hưởng nặng nề đến lượng khách và doanh thu ngành. Việc thiếu các khu nghỉ dưỡng cao cấp và dịch vụ bổ trợ khiến thời gian lưu trú của khách còn ngắn. Công tác thanh tra kiểm tra hoạt động du lịch đôi khi chưa bao quát hết các cơ sở kinh doanh nhỏ lẻ. Sự phối hợp liên ngành giữa văn hóa, giao thông và đầu tư vẫn còn những nút thắt cần tháo gỡ. Thách thức về biến đổi khí hậu và thiên tai cũng gây áp lực lên việc bảo tồn các di tích lịch sử cách mạng. Để vượt qua khó khăn, tỉnh cần một chiến lược quản lý linh hoạt và quyết liệt hơn trong việc huy động vốn đầu tư.

2.1. Hạn chế trong hệ thống hạ tầng kỹ thuật du lịch

Hệ thống giao thông kết nối các điểm du lịch dù đã cải thiện nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu khách quốc tế cao cấp. Các cơ sở lưu trú chủ yếu là khách sạn tầm trung, thiếu các resort 4-5 sao tại các bãi biển như Cửa Tùng, Cửa Việt. Việc đầu tư cho hạ tầng kỹ thuật du lịch cần nguồn vốn lớn và lộ trình dài hạn.

2.2. Bất cập trong cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý

Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý du lịch tại các cấp huyện, xã còn thiếu cán bộ chuyên môn sâu. Sự chồng chéo trong chức năng nhiệm vụ giữa các ban ngành gây khó khăn cho doanh nghiệp khi thực hiện thủ tục đầu tư. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và điều hành vẫn chưa thực sự đồng bộ.

III. Thực trạng chính sách phát triển du lịch tại tỉnh Quảng Trị

Giai đoạn 2010-2016, tỉnh Quảng Trị đã ban hành nhiều chính sách phát triển du lịch nhằm kích cầu và thu hút đầu tư. Lượng khách du lịch đến tỉnh có sự tăng trưởng ổn định trước khi gặp sự cố môi trường năm 2016. Tỉnh tập trung phát triển các dòng sản phẩm như du lịch tâm linh Quảng Trịdu lịch hoài niệm. Các di tích như Thành cổ Quảng Trị, Địa đạo Vịnh Mốc đã trở thành những điểm đến mang tính biểu tượng quốc gia. Công tác quy hoạch các khu du lịch trọng điểm như Cửa Việt - Cửa Tùng - Cồn Cỏ được triển khai tích cực. Tuy nhiên, việc thực hiện quy hoạch đôi khi còn chậm so với tiến độ đề ra do thiếu vốn đối ứng. Ngân sách nhà nước chủ yếu ưu tiên cho việc trùng tu di tích và xây dựng hạ tầng cơ bản. Các chính sách ưu đãi về đất đai và thuế đã bước đầu thu hút được một số nhà đầu tư lớn. Dù vậy, hiệu quả từ các hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch vẫn chưa đạt như kỳ vọng do kinh phí còn hạn hẹp. Sự liên kết giữa các doanh nghiệp lữ hành nội tỉnh và ngoại tỉnh cần được thắt chặt hơn để tạo chuỗi cung ứng dịch vụ hoàn chỉnh.

3.1. Phân tích sản phẩm du lịch đặc trưng của địa phương

Quảng Trị nổi tiếng với du lịch hoài niệm về chiến trường xưa và đồng đội. Các di tích lịch sử cách mạng như Đường 9 - Khe Sanh, Nghĩa trang Trường Sơn thu hút đông đảo khách nội địa. Bên cạnh đó, du lịch tâm linh Quảng Trị tại La Vang và các chùa cổ cũng là điểm nhấn quan trọng trong cơ cấu sản phẩm.

3.2. Đánh giá công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Hệ thống văn bản pháp lý về du lịch của tỉnh cơ bản bám sát quy định trung ương nhưng cần bổ sung các cơ chế đặc thù. Việc thực hiện cải cách hành chính theo mô hình một cửa đã giúp rút ngắn thời gian cấp phép đầu tư. Tuy nhiên, tính ổn định của các chính sách khuyến khích cần được duy trì để tạo niềm tin cho nhà đầu tư.

IV. Bí quyết nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch Quảng Trị

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch là yếu tố sống còn để hoàn thiện công tác quản lý. Thực trạng hiện nay cho thấy tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn tại Quảng Trị còn thấp so với mặt bằng chung. Nhiều cán bộ quản lý nhà nước chưa được cập nhật các kiến thức về kinh tế du lịch hiện đại. Do đó, tỉnh cần có kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng định kỳ cho đội ngũ nhân viên ngành dịch vụ. Việc liên kết với các trường đại học, cao đẳng du lịch tại Huế và Đà Nẵng là giải pháp hiệu quả. Cần chú trọng đào tạo ngoại ngữ và kỹ năng giao tiếp quốc tế cho đội ngũ hướng dẫn viên. Nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao sẽ là cầu nối quảng bá hình ảnh con người Quảng Trị thân thiện. Nhà nước cần có chính sách thu hút nhân tài và đãi ngộ xứng đáng cho các chuyên gia đầu ngành. Việc ứng dụng khoa học công nghệ vào đào tạo cũng cần được đẩy mạnh. Một đội ngũ quản lý giỏi sẽ giúp tối ưu hóa quy trình vận hành và nâng cao hiệu quả kinh doanh. Đầu tư vào con người chính là đầu tư cho tương lai bền vững của ngành du lịch địa phương.

4.1. Giải pháp đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên sâu

Tổ chức các lớp tập huấn ngắn hạn về quản lý khách sạn, lữ hành cho các chủ doanh nghiệp nhỏ. Khuyến khích các cơ sở kinh doanh tự đào tạo tại chỗ thông qua các chương trình cầm tay chỉ việc. Chú trọng bồi dưỡng kiến thức về phát triển du lịch bền vững và bảo vệ môi trường cho cộng đồng dân cư.

4.2. Ứng dụng khoa học và công nghệ trong quản lý nhân sự

Xây dựng cơ sở dữ liệu số về nguồn nhân lực du lịch toàn tỉnh để dễ dàng quản lý và điều tiết. Sử dụng các nền tảng học tập trực tuyến để phổ biến các quy định pháp luật mới nhất. Ứng dụng công nghệ giúp đánh giá hiệu quả làm việc của cán bộ quản lý một cách khách quan và chính xác.

V. Phương pháp xúc tiến quảng bá du lịch Quảng Trị bền vững

Hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch cần được đổi mới theo hướng chuyên nghiệp và hiện đại. Quảng Trị cần xây dựng bộ nhận diện thương hiệu du lịch độc đáo gắn liền với hòa bình và lịch sử. Việc sử dụng các kênh truyền thông số và mạng xã hội là xu hướng tất yếu hiện nay. Tỉnh nên tăng cường tham gia các hội chợ du lịch quốc tế để tìm kiếm đối tác lữ hành lớn. Sự liên kết vùng trong du lịch giữa Quảng Bình - Quảng Trị - Thừa Thiên Huế giúp tạo ra các tour du lịch đa dạng. Cần tận dụng lợi thế của Hành lang kinh tế Đông - Tây để thu hút khách từ Lào và Thái Lan. Các ấn phẩm quảng bá như bản đồ, sách ảnh cần được biên dịch sang nhiều thứ tiếng. Việc tổ chức các sự kiện văn hóa, lễ hội quy mô lớn sẽ tạo hiệu ứng truyền thông mạnh mẽ. Nhà nước cần hỗ trợ doanh nghiệp trong việc tiếp cận các thị trường quốc tế tiềm năng. Xúc tiến du lịch không chỉ là quảng cáo mà còn là tạo ra những trải nghiệm thật sự giá trị. Một chiến dịch quảng bá tốt sẽ giúp nâng cao vị thế của du lịch Quảng Trị trên bản đồ du lịch Việt Nam.

5.1. Đẩy mạnh liên kết vùng trong du lịch miền Trung

Hợp tác với các tỉnh lân cận để xây dựng tour 'Con đường di sản miền Trung' kết nối các di sản thế giới. Sự liên kết vùng trong du lịch giúp chia sẻ nguồn khách và giảm chi phí xúc tiến. Các địa phương cần thống nhất về chính sách giá và chất lượng dịch vụ để tạo sự chuyên nghiệp.

5.2. Khai thác tiềm năng Hành lang kinh tế Đông Tây

Tận dụng lợi thế cửa khẩu quốc tế Lao Bảo để phát triển các tour du lịch Caravan xuyên biên giới. Xây dựng các trung tâm thông tin du lịch tại cửa khẩu để hỗ trợ du khách quốc tế. Tăng cường hợp tác với các tỉnh Savannakhet (Lào) và Mukdahan (Thái Lan) để quảng bá chung cho toàn tuyến hành lang.

VI. Hướng phát triển du lịch Quảng Trị tầm nhìn đến năm 2025

Tầm nhìn đến năm 2025, Quảng Trị phấn đấu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh. Mục tiêu trọng tâm là hoàn thiện hệ thống quản lý nhà nước về du lịch theo hướng tinh gọn, hiệu quả. Tỉnh sẽ tập trung đầu tư vào các dự án hạ tầng trọng điểm như Cảng hàng không Quảng Trị. Việc phát triển các sản phẩm du lịch đặc trưng gắn với biển đảo và di tích lịch sử sẽ được ưu tiên. Phát triển du lịch bền vững phải đi đôi với bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học. Công tác thanh tra kiểm tra hoạt động du lịch sẽ được tăng cường để đảm bảo môi trường kinh doanh lành mạnh. Tỉnh cũng dự báo nhu cầu về phòng khách sạn và lao động sẽ tăng mạnh trong giai đoạn tới. Cần có những chính sách đột phá để thu hút các tập đoàn du lịch lớn đầu tư vào các khu nghỉ dưỡng cao cấp. Sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động du lịch sẽ được khuyến khích thông qua các mô hình du lịch cộng đồng. Quảng Trị hướng tới xây dựng một điểm đến an toàn, thân thiện và giàu bản sắc văn hóa. Sự thành công của ngành du lịch sẽ góp phần quan trọng vào việc tăng trưởng GRDP của toàn tỉnh.

6.1. Mục tiêu phát triển du lịch bền vững và dài hạn

Phấn đấu đến năm 2025, lượng khách du lịch đến tỉnh đạt mục tiêu đề ra trong quy hoạch, tăng tỷ trọng đóng góp vào ngân sách. Tập trung bảo tồn các giá trị của di tích lịch sử cách mạng gắn với khai thác du lịch xanh. Đảm bảo sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và giữ gìn bản sắc văn hóa địa phương.

6.2. Tăng cường thanh tra kiểm tra hoạt động du lịch

Thiết lập đường dây nóng để tiếp nhận phản ánh của du khách về chất lượng dịch vụ. Thực hiện thanh tra kiểm tra hoạt động du lịch định kỳ đối với các cơ sở lưu trú và lữ hành. Xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật, chèo kéo khách hoặc làm ảnh hưởng đến môi trường du lịch của tỉnh.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

12/10/2025
Luận văn thạc sĩ hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về du lịch tỉnh quảng trị

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH 1. Cơ sở lý luận về du lịch và quản lý nhà nước về du lịch 1. Một số khái niệm liên quan đến du lịch 1. Khái niệm về du lịch Thuật ngữ du lịch bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp: Tonos nghĩa là “Đi một vòng„.

Thuật ngữ này được đưa vào hệ ngữ La tinh thành Turnur và sau đó thành Tour trong tiếng Pháp với nghĩa là đi vòng quanh, cuộc dạo chơi. Trong tiếng Việt, thuật ngữ du lịch là một từ gốc Hán - Việt, tạm hiểu là đi chơi, trải nghiệm. Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng KTXH phổ biến ở mọi quốc gia. Tuy nhiên, do bối cảnh về không gian, thời gian khác nhau hoặc dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi người có một cách hiểu về du lịch khác nhau.

Theo nghĩa chung nhất, “Du lịch” được hiểu là việc đi lại của từng cá nhân hoặc một nhóm người rời khỏi chỗ ở của mình trong khoảng thời gian nhất định đến một nơi nào đó để nghỉ ngơi, giải trí hay chữa bệnh. Dưới đây, chúng ta chỉ đề cập một số định nghĩa thông dụng:  Liên Hiệp Quốc (1963) định nghĩa về du lịch như sau: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”.  Luật du lịch Việt Nam năm 2005 định nghĩa: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”[3].

Với các cách tiếp cận như vậy, định nghĩa về du lịch hiện nay bao gồm hai thành tố, đó là: Thứ nhất, du lịch là một nhu cầu, hiện tượng xã hội: sự di chuyển và lưu trú tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục 5 đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao hiểu biết, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hoá và dịch vụ nào đó. Thứ hai, đó là một ngành hay hoạt động kinh doanh sinh lời: Cung cấp các ấn phẩm, dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú với mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao nhận thức về thế giới xung quanh. Cách hiểu về du lịch như vậy có ý nghĩa thúc đẩy quan điểm phát triển đúng đắn về du lịch. Cho đến nay, không ít người, kể cả những người đang làm việc trong ngành du lịch cũng có cách hiểu phiến diện về du lịch thiên về góc độ xã hội hoặc kinh tế.

Do đó, họ chỉ tập trung vào thỏa mãn nhu cầu tinh thần, sức khỏe mà bỏ qua lợi ích quan trọng của kinh tế hoặc đề cao lợi nhuận bằng việc khai thác triệt để tài nguyên thiên nhiên và các giá trị văn hóa. Chỉ có hiểu khái niệm du lịch một cách đầy đủ như vậy, chúng ta mới xác định được rằng phát triển du lịch không chỉ là trách nhiệm của nhà nước hay của một cá nhân, tổ chức nào mà là trách nhiệm chung của toàn xã hội. Các loại hình du lịch chủ yếu Hoạt động du lịch diễn ra rất phong phú và đa dạng. Tuỳ thuộc vào cách phân chia mà có các loại hình du lịch khác nhau.

Mỗi loại hình du lịch đều có những tác động nhất định lên môi trường. Tùy theo căn cứ khác nhau người ta phân du lịch thành nhiều loại hình khác nhau:  Du lịch Quốc tế: là sự di chuyển từ nước này sang nước khác, du khách phải ra khỏi vùng lãnh thổ biên giới và tiêu bằng ngoại tệ nơi họ đến du lịch.  Du lịch nội địa: là sự di chuyển từ chỗ này sang chỗ khác trong cùng một phạm vi lãnh thổ của một quốc gia.  Du lich Lễ hội: Lễ hội là một nhu cầu không thể thiếu đối với đời sống tâm linh của con người, lễ hội không chỉ đem lại sự hiểu biết về truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán của mỗi vùng, mỗi quốc gia mà còn đem lại cho du khách sự bình yên, quên đi những khó khăn vất vả của cuộc sống đời thường.

 Du lịch Văn hóa: Nhằm đáp ứng nhu cầu nâng cao sự hiểu biết của du khách về những khu di tích lịch sử, những công trình kiến trúc, chế độ xã hội, văn hóa, phong tục tập quán của nơi đến du lịch. 6  Du lịch giải trí: Là một nhu cầu không thể thiếu được của du khách, vì vậy ngoài thời gian tham quan du khách còn phải được thư giãn nghỉ ngơi để phục hồi sức khỏe sau khoảng thời gian làm việc căng thẳng, do đó các khu vui chơi cần phải có các chương trình vui chơi giải trí cho du khách.  Du lịch tham quan: Đây là loại hình du lịch nhằm nâng cao sự hiểu biết của con người về thế giới bên ngoài, đối tượng tham quan là tài nguyên du lịch tự nhiên, các khu di tích lịch sử, hoặc các công trình kiến trúc cổ xưa vv.  Du lịch khám phá: Du khách muốn khám phá thế giới xung quanh nhằm mục đích nâng cao sự hiểu biết thế giới bên ngoài, du lịch khám phá còn được chia thành du lịch tìm hiểu (du khách có thể tìm hiểu về phong tục tập quán văn hóa lịch sử, về tài nguyên thiên nhiên môi trường nơi họ đến du lịch) và du lịch mạo hiểm (chủ yếu dành cho giới trẻ họ thích rèn luyện bản thân, thích ưa mạo hiểm chính vì vậy họ thường chọn những nơi có nhiều rừng núi để khám phá).

 Du lịch thể thao: Là loại hình du lịch nhằm đáp ứng lòng ham mê hoạt động thể thao của con người, họ đi du lịch ngoài việc tham quan những danh lam thắng cảnh thì bên cạnh đó họ cũng tìm đến những nơi có điều kiện để tự mình chơi những môn thể thao mà họ yêu thích.  Du lịch kết hợp với hội thảo, hội nghị, triển lãm, tổ chức các sự kiện (Du lịch MICE/Meeting, Incentive, Convention, Exhibition): Đây là loại hình du lịch tiềm năng và ngày càng phát triển, và là một trong những mục tiêu của chiến lược phát triển ngành du lịch Việt Nam. Vì đây là một loại hình du lịch cao cấp, kinh phí tổ chức cho chương trình thường cao hơn so với du lịch thông thường, tùy thuộc vào yêu cầu của từng đối tượng khách hàng. Đòi hỏi các công ty kinh doanh du lịch phải cung ứng dịch vụ trọn gói từ lưu trú, cho đến vận chuyển và xây dựng các chương trình.

Đây là cơ hội để các công ty khẳng định được vị thế và thương hiệu của mình về ngành dịch vụ này. Nhìn chung, các loại hình du lịch thường phối hợp chặt chẽ với nhau, để khai thác hết tiềm năng của các loại hình du lịch, các cơ quan tổ chức du lịch cần nghiên cứu cách thức tổ chức các loại hình du lịch đan xen nhằm đáp ứng nhu cầu tối đa của khách du lịch. Đặc điểm của du lịch và vai trò của ngành du lịch trong nền kinh tế 7 1. Đặc điểm của du lịch Từ những khái niệm về du lịch và hoạt động du lịch, có thể rút ra được một số đặc điểm của du lịch đó là: Thứ nhất, du lịch phát triển dựa trện các yếu tố tài nguyên tài nguyên.

Tài nguyên du lịch ở đây được hiểu là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động, sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch. Với tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản hình thành nên các sản phẩm du lịch, đồng thời dựa vào các tài nguyên du lịch là cơ sở hình thành nên các loại hình du lịch khác nhau như: du lịch tham quan, du lịch văn hóa, du lịch ẩm thực, du lịch xanh, du lịch MICE, teambuilding. Đồng thời, nhờ vào các yếu tố tài nguyên, hình thành nên các đối tượng du lịch và các cơ sở du lịch, và dựa vào tài nguyên ở từng vùng lãnh thổ hình thành nên mùa vụ du lịch, và có quyết định đến thứ bậc của các khách sạn, khu du lịch. Có thể thấy, du lịch được hình thành dựa trên các yếu tố tài nguyên, nhờ vào đó các địa phương tìm kiếm và tạo điều kiện cho các loại hình du lịch phát triển, nhằm khai thác hết các lợi thế của tài nguyên du lịch mà mình có thế mạnh, Thứ hai, du lịch mang đầy đủ đặc tính của một ngành dịch vụ.

Theo đó, du lịch không có một hình thái cụ thể, sản phẩm của du lịch, nhằm thõa mãn nhu cầu của khách du lịch là: nghĩ dưỡng, tìm hiểu, khám phá, vui chơi, giải trí và các nhu cầu bổ sung khác. Sản phẩm của du lịch tạo ra đồng thời với quá trình tiêu thụ, đồng thời, du lịch mang đầy tính tổng hợp của hoạt động du lịch: trong một chuyến du lịch, khách du lịch không chỉ sử dụng một sản phẩm du lịch đơn thuần, mà sử dụng một sản phẩm du lịch tổng hợp (bao gồm sản phẩm của ngành du lịch như danh lam thắng cảnh, các trò chơi. và cả các sản phẩm kèm theo trong kinh doanh dịch vụ như các sản phẩm trong kinh doanh bảo hiểm, tài chính. Thứ ba, du lịch là một ngành dịch vụ mang đầy tính nhạy cảm và thời vụ.

Du lịch là một ngành dễ bị chịu tác động của các yếu tố trong môi trường vĩ mô (kinh tế, chính trị, xã hội, luật pháp.), có thể bị tác động theo hướng tiêu cực hoặc tích cực. Du lịch chỉ có thể phát triển trong một môi trường có tính ổn định về mặt chính trị, quốc phòng. Sự đảm bảo vững chắc của an ninh và quốc phòng tạo môi trường ổn định cho đất nước và khách tham quan. Đồng thời, du lịch chịu sự 8 tác động của thiên nhiên, và các vấn đề xã hội, với những đất nước có nhiều biến động về điều kiện về thiên nhiên: như lụt bão, sóng thần,.

và các vấn đề về y tế: như sự bùng phát các dịch bênh sẽ kìm hãm sự phát triển của du lịch.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ