CHƯƠNG 1: M.SÔLÔKHÔP - NHÀ TIỂU THUYẾT NGA VĨ ĐẠI THẾ KỈ XX 1.1 Hình tượng người đảng viên cộng sản trong tiểu thuyết Nga thế kỉ XX 1.1 Khái niệm hình tượng nhân vật trong tiểu thuyết hiện thực Đối tượng chung của văn học là cuộc đời nhưng con người luôn giữ vị trí trung tâm. Những sự kiện kinh tế, chính trị - xã hội, những bức tranh thiên nhiên hay những lời bình luận… đều góp phần đắc lực tạo nên sự phong phú, đa dạng cho tác phẩm. Tuy nhiên, việc quyết định chất lượng tác phẩm văn học chính là việc xây dựng hình tượng nhân vật. Đọc một tác phẩm, cái đọng lại sâu sắc nhất trong tâm hồn người đọc thường là số phận, tình cảm, suy tư của những con người được nhà văn thể hiện.
Người đọc sẽ tìm thấy ở nhân vật những điểm tương đồng bởi tấm gương phản chiếu là hiện thực để từ đó giáo dục nhân cách con người. Không những thế, nhân vật còn là nơi thâu tóm mọi ý đồ nghệ thuật của tác giả. Thông qua nhân vật nhà văn gửi gắm những tâm tư, tình cảm của mình và muốn tìm một sự đồng cảm nơi bạn đọc. Khái niệm nhân vật Trong văn học, nhân vật được tiếp cận theo nhiều chiều hướng khác nhau.
Hà Minh Đức trong cuốn Lý luận văn học cho rằng: “Nhân vật văn học không chỉ là con người, những con người có tên hoặc không có tên, được khắc họa sâu đậm hoặc chỉ xuất hiện thoáng qua trong tác phẩm, mà còn có thể là những sự vật, loài vật khác ít nhiều mang bóng dáng, tính cách con người, được dùng như những phương thức khác nhau để biểu hiện con người” [3, tr. Lại Nguyên Ân trong cuốn 150 thuật ngữ văn học lại quan niệm, nhân vật văn học là: “Hình tượng nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ. Bên cạnh con người, nhân vật văn học có khi còn là các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường được gán cho những đặc điểm giống với con người” [1, tr. Nhân vật văn học còn được hiểu là: “Con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học.
Nhân vật văn học có thể có tên riêng (Tấm Cám, chị Dậu, anh Pha…) cũng có thể không có tên riêng như thằng bán tơ, một mụ nào trong Truyện Kiều” [4, tr, 235]. Tóm lại, mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng các nhà nghiên cứu đều thống nhất nhân vật văn học không nhất thiết phải là con người mà có thể là sự vật, loài vật mang hình dáng, tính cách của con người. Ví dụ, nhân vật Dế Mèn, Dế Chũi, võ sĩ Bọ Ngựa trong truyện thiếu nhi của Tô Hoài. Ngoài ra, còn có loại nhân vật được sử dụng ẩn dụ, không phải là con người, sự vật cụ thể như hình tượng nhân dân trong Chiến tranh và hòa bình của L.Tônxtôi, thời gian trong sáng tác của Sêkhôp.
Tuy vậy, nhân vật vẫn là hình tượng của con người trong tác phẩm văn học. Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật có tính ước lệ, không đồng nhất với con người có thật trong đời sống. Khác với các loại hình nghệ thuật khác, nhân vật văn học được thể hiện bằng chất liệu là ngôn từ. Chính vì lẽ đó, khi đọc một tác phẩm văn học đòi hỏi người đọc phải tưởng tượng, liên tưởng để dựng lại một con người hoàn chỉnh trong tất cả các mối quan hệ.
Nhân vật văn học có chức năng khái quát những tính cách, hiện thực cuộc sống và thể hiện quan niệm của nhà văn về con người. Chẳng hạn, gắn liền với Kiều là số phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến tài hoa mà bạc phận, Chí Phèo của Nam Cao thể hiện quá trình lưu manh hóa của một bộ phận nông dân trong xã hội thực dân nửa phong kiến. Tùy theo từng thể loại mà người ta có thể chia nhân vật thành nhiều loại khác nhau: nhân vật chính và nhân vật phụ, nhân vật chính diện và nhân vật phản diện, nhân vật trữ tình, nhân vật kịch, nhân vật chức năng (nhân vật mặt nạ), nhân vật loại hình, nhân vật tính cách, nhân vật tư tưởng. Khái niệm hình tượng nghệ thuật Lại Nguyên Ân trong cuốn 150 thuật ngữ văn học quan niệm hình tượng nghệ thuật là: “Phương thức chiếm lĩnh và tái tạo hiện thực riêng biệt, vốn có và chỉ có ở nghệ thuật.
Bất cứ một hiện tượng nào được xây dựng lại một cách sáng tạo trong tác phẩm nghệ thuật đều là hình tượng nghệ thuật; thông thường và quan trọng nhất là hình tượng con người (hình tượng nhân vật)” [1, tr. Chúng tôi đồng tình với quan niệm của các nhà nghiên cứu trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học khi cho rằng hình tượng nghệ thuật là: “Các khách thể đời sống được nghệ sĩ tái hiện bằng tưởng tượng sáng tạo trong những tác phẩm nghệ thuật. Giá trị trực quan độc lập là đặc điểm quan trọng của hình tượng nghệ thuật. Bằng chất liệu cụ thể, nó làm cho người ta có thể ngắm nghía, thưởng ngoạn, tưởng tượng.
Đó có thể là một đồ vật, một phong cảnh thiên nhiên hay một sự kiện xã hội được cảm nhận. Hình tượng có thể tồn tại qua chất liệu vật chất nhưng giá trị của nó là ở phương diện tinh thần” [4, tr. Hình tượng nghệ thuật tái hiện đời sống nhưng không phải sao chép y nguyên những hiện thực có thật, mà là được các nhà nghệ sĩ tái hiện có chọn lọc, sáng tạo, để từ đó người đọc có thể thưởng thức cuộc đời không chỉ trong tác phẩm mà còn cảm nhận được sự suy tư, lòng trắc ẩn và cả nụ cười trong cuộc đời thực ấy. Hình tượng nghê thuật tập trung thể hiện các giá trị nhân đạo và thẩm mĩ của nghệ thuật.
Đọc Chí Phèo của Nam Cao, người đọc như được sống một cuộc đời thực trong tác phẩm, ghi nhớ khuôn mặt của Chí Phèo và không khỏi băn khoan, day dứt vì cách hắn uống rượu vì “bao giờ cũng thế cứ rượu xong là hắn chửi”, vì những cuộc rạch mặt ăn vạ và mối tình tha thiết của Chí Phèo với Nở. Nghệ sĩ sáng tạo ra tác phẩm là để nhận thức và cắt nghĩa đời sống, thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình giúp con người thể nghiệm cuộc đời, hiểu được những quan hệ muôn màu muôn vẻ của bản thân và thế giới xung quanh. Tuy nhiên, khác với các loại hình nghệ thuật khác (hội họa, kiến trúc, âm nhạc…), hình tượng nghệ thuật lấy ngôn từ làm chất liệu để xây dựng hình tượng. Thông qua hình tượng ngôn từ, tác phẩm đem đến cho người đọc “không phải là bức tranh đời sống đứng yên mà luôn sống động, lung linh, huyền ảo, vừa vô hình, vừa hữu hình, cụ thể đấy mà mơ hồ đấy như mặt trăng đáy nước, bóng người trong gương, như không gian vốn ba chiều nay thu lại trong không gian hai chiều của hội họa, như một mái chèo trên hai thước chiều sân khấu mà tác giả đã vẫy vùng trước đại dương” [8, tr.144] Nói tới hình tượng nghệ thuật là nói tới hình tượng con người, không phải một cá nhân như bà mẹ Nilôpna trong tiểu thuyết Người mẹ của Gorki, Đavưđôp trong tiểu thuyết Đất vỡ hoang của Sôlôkhôp, Lêvinxơn trong tiểu thuyết Chiến Bại của Phađêep… mà bao gồm cả một tập thể người như hình tượng nhân dân trong tiểu thuyết lịch sử Boris Godunov của Puskin hay hình tượng Tổ Quốc trong thơ Êxênhin gắn liền với cây bạch dương cùng với những chi tiết biểu hiện cảm tính, phong phú.
Tuy nhiên, không phải tác phẩm văn học nào cũng có hình tượng nhân vật, cũng như không phải nhân vật nào trong tác phẩm cũng trở thành hình tượng nhân vật. Để trở thành hình tượng văn học thì điều kiện cần và đủ phải là nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình. Nghĩa là, nhân vật đó phải có sức khái quát cao, là người phát ngôn, đại diện cho một giai cấp, tầng lớp, bối cảnh xã hội mà nhân vật đó sống phải là bối cảnh điển hình tiêu biểu cho một vùng, một dân tộc, thời đại. Đó là hình tượng người trí thức Thứ trong truyện ngắn Sống mòn hay hình tượng người nông dân Chí phèo trong truyện ngắn Chí phèo của Nam Cao; những người đảng viên cộng sản Đavưđôp, Nagunôp, Radơmiôtnôp trong tiểu thuyết Đất vỡ hoang của Sôlôkhôp… đều là những nhân vật điển hình sống trong hoàn cảnh điển hình.
Tuy nhiên, nhân vật điển hình ngoài là nhân vật mang những nét chung thì phải là nhân vật có những nét riêng biệt. Khái niệm tiểu thuyết Tiểu thuyết là: “Tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian. Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tình cảm đa dạng” [4, tr. Trong quá trình vận động và phát triển, diện mạo của tiểu thuyết không ngừng thay đổi.
Tuy nhiên, tiểu thuyết khác với các thể loại tự sự (ngụ ngôn, anh hùng ca) ở chỗ tiểu thuyết nhìn cuộc sống từ góc độ đời tư, mang đậm chất văn xuôi, tức là tái hiện đời sống như nó vốn có, không thi vị hóa, lí tưởng hóa. Vì vậy mà hình tượng nhân vật trong tiểu thuyết là những “con người nếm trải”, tư duy, chịu đau khổ, dằn vặt trong cuộc đời trong khi nhân vật ở các thể loại khác (sử thi, kịch.) thường là con người hành động. Tiểu thuyết miêu tả con người trong hoàn cảnh, không tách rời hoàn cảnh, nó khắc họa nhân vật như con người đang trưởng thành, biến đổi và do đời dạy bảo. Đó là những nhân vật như Kiên trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Grigôri trong Sông Đông êm đềm của Sôlôkhôp, Paven Corsaghin trong Thép đã tôi thế đấy của Ôxtơrôpxki… đều là con người nếm trải và tư duy.
Nếu như con người trong các tác phẩm tự sự dựa vào cốt truyện và tính cách nhân vật, con người có địa vị như thế nào thì hành động như thế ấy, phù hợp với cương vị của mình thì hình tượng nhân vật trong tiểu thuyết ngoài việc miêu tả những sự kiện, biến cố và những chi tiết tính cách còn thể hiện suy tư của nhân vật về thế giới, về đời người. Nói tóm lại, hình tượng nhân vật trong tiểu thuyết là những “con người nếm trải”, là nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình. Trải qua bao thăng trầm và biến động của lịch sử, tiểu thuyết vẫn tồn tại và không ngừng phát triển ngày càng đáp ứng được yêu cầu, nhu cầu trong thế giới tinh thần của con người.