phần mở đầu,kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn có cấu trúc 3 chƣơng nhƣ sau: 7 Chƣơng 1: Cơ sở lí luận của đề tài Trong chƣơng 1 này, chúng tôi đi vào khái quát một số vấn đề có liên quan đến đề tài nhƣ: Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, vai giao tiếp và các chiến lƣợc giao tiếp, sự tác động của giới trong ngôn ngữ, xƣng hô trong giao tiếp và hành động cầu khiến trong ngôn ngữ. Các hành vi cầu khiến của nhân vật nữ trong tiểu thuyết của Lê Lựu Chúng tôi tiếp tục triển khai một trong hai vấn đề trọng tâm của đề tài đã nêu ra ở chƣơng 1, đó là nhân tố giới tác động đến ngôn ngữ. Cụ thể là chúng tôi nghiên cứu các hành động cầu khiến của các nữ nhân vật trong tiểu thuyết của Lê Lựu qua việc tiến hành khảo sát ngữ liệu trong hai cuốn tiểu thuyết của Lê Lựu là “Thời xa vắng” và “Sóng ở đáy sông”. Cách xƣng hô trong hành vi cầu khiến của nhân vật nữ trong một số tiểu thuyết của Lê Lựu.
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu, khảo sát ngữ liệu về những từ xƣng hô trong hành động cầu khiến của các nữ nhân vật trong hai cuốn tiểu thuyết của Lê Lựu là” Thời xa vắng” và “Sóng ở đáy sông”. Qua đó chúng tôi nhận thấy vẻ đẹp nữ tính của các nữ nhân vật thông qua cách sử dụng từ xƣng hô khi các nhân vật nữ thực hiện hành động cầu khiến. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái quát chung về giao tiếp 1.
Khái niệm giao tiếp Giao tiếp có thể hiểu là quá trình trao đổi thông tin giữa ít nhất hai chủ thể giao tiếp diễn ra trong một ngữ cảnh, một tình huống và bằng một hệ thống tín hiệu nhất định. Có khá nhiều định nghĩa về giao tiếp, trong đó phải kể đến định nghĩa của Diệp Quang Ban là định nghĩa mà chúng tôi cho rằng dễ đƣợc sự đồng thuận của các nhà nghiên cứu: “Giao tiếp được hiểu là quá trình thông tin diễn ra giữa ít nhất là hai người giao tiếp trao đổi với nhau, gắn với một ngữ cảnh và một tình huống nhất định” [2, tr. Khái niệm giao tiếp ngôn ngữ Trong quá trình trao đổi thông tin (giao tiếp), các chủ thể giao tiếp có thể sử dụng các phƣơng tiện giao tiếp khác nhau, nhƣng ngôn ngữ đƣợc sử dụng làm phƣơng tiện chính. Chúng tôi đồng ý với quan niệm của Nguyễn Quang Ninh về giao tiếp ngôn ngữ:” Giao tiếp ngôn ngữ hay còn gọi là giao tiếp bằng ngôn ngữ là việc thông báo cho nhau, trao đổi với nhau những tin tức nào đó hoặc bộc lộ với nhau những niềm vui nỗi buồn,… Nào đó bằng phương tiện ngôn ngữ” [34, tr.
Các nhân tố tham gia hoạt động giao tiếp Nói đến quá trình giao tiếp không thể không nói đến các nhân tố tham gia giao tiếp: nhân vật giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, nội dung giao tiếp, mục đích giao tiếp, phƣơng tiện và cách thức giao tiếp. Nhân vật giao tiếp Nhân vật giao tiếp gồm ngƣời nói, ngƣời viết (ngƣời phát tín hiệu) và ngƣời nghe, ngƣời đọc (ngƣời nhận tín hiệu). Trong giao tiếp, các nhân vật giao tiếp có sự chi phối tƣơng tác qua lại lẫn nhau. Khi nói và viết thì nếu ngƣời nói và ngƣời viết bàn những vấn đề ngƣời nghe, ngƣời đọc quan tâm và có hứng thú thì giao tiếp mới đạt hiệu quả và ngƣợc lại.
Mặt khác để đạt hiệu 9 quả giao tiếp cao ngƣời phát tin cần xác định vai giao tiếp của mình với ngƣời nhận tin để đạt hiệu quả giao tiếp cao nhất. Nhƣ vậy, hiệu quả giao tiếp không chỉ phụ thuộc và ngƣời nói mà phụ thuộc rất nhiều vào ngƣời nghe. Hoàn cảnh giao tiếp Hoàn cảnh giao tiếp bao gồm các yếu tố không gian, thời gian, bối cảnh xã hội, tâm lí, văn hóa, quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp,. mà ở đó hoạt động giao tiếp diễn ra.
Hiểu một cách rộng, hoàn cảnh giao tiếp bao gồm từ hoàn cảnh xã hội đến hoàn cảnh tự nhiên, từ hoàn cảnh tâm lí chung của cộng đồng đến bối cảnh lịch sử,. Hiểu theo cách hẹp, nó bao gồm các yếu tố: thời gian, địa điểm, hình thức giao tiếp, tình trạng sức khỏe, những sự việc xảy ra xung quanh,. tồn tại trong quá trình giao tiếp. Có thể nói hoàn cảnh giao tiếp có ảnh hƣởng đến hoạt động giao tiếp, nó vừa là bối cảnh sản sinh ra hoạt động giao tiếp vừa là cơ sở để lĩnh hội hoạt động giao tiếp.
Nội dung giao tiếp Nội dung giao tiếp chính là mảng hiện thực đƣợc các nhân vật giao tiếp đề cập tới trong quá trình giao tiếp. Nội dung giao tiếp là những sự vật, hiện tƣợng của tự nhiên, xã hội hay là những hiện thực thuộc về thế giới nội tâm của con ngƣời. Nội dung giao tiếp có thể là thực tế cuộc sống đang diễn ra hàng ngày hoặc cũng có thể là những thế giới hƣ ảo, hoang đƣờng do con ngƣời tƣởng tƣợng ra. Tuy nhiên không phải lúc nào ngƣời nói, ngƣời viết cũng thể hiện đƣợc hết tất các các ý định của mình vào trong ngôn bản vì rất nhiều yếu tố chi phối nhƣ khả năng sử dụng ngôn từ, hoàn cảnh giao tiếp, tình trạng tâm lí của ngƣời phát tin và ngƣời nhận tin,.
Do đó, giữa ngôn bản và nội dung dự kiến ban đầu bao giờ cũng có một khoảng cách nhất định. Mục đích giao tiếp Có nhiều mục đích giao tiếp khác nhau tùy thuộc vào từng hoạt động giao tiếp cụ thể. Có thể quy tụ lại các mục đích sau: Mục đích thông tin; Mục đích bộc lộ tình cảm và quan hệ liên nhân; Mục đích hành động. Có những cuộc hội thoại có chủ đích trƣớc nhƣ cuộc họp cơ quan,đàm 10 phán ngoại giao,… Tuy nhiên, không phải lúc nào các cuộc hội thoại cũng có mục đích từ trƣớc, ví dụ nhƣ những cuộc tán gẫu với bạn bè.
Phương tiện và cách thức giao tiếp Con ngƣời giao tiếp có thể tiến hành bằng các phƣơng tiện khác nhau, tuy nhiên ngôn ngữ đƣợc sử dụng làm phƣơng tiện giao tiếp chủ yếu. Con ngƣời có thể thực hiện các hoạt động giao tiếp bằng nhiều cách thức giao tiếp khác nhau nhƣ bằng lời nói hay bằng văn bản, bằng thơ hay văn xuôi, trực tiếp hay gián tiếp… 1. Vai giao tiếp và chiến lược giao tiếp 1. Một số quan điểm về vai giao tiếp Đỗ Hữu Châu quan niệm rằng, cuộc đối thoại thông thƣờng là sự luân phiên giữa vai ngƣời nói (SP1) và vai ngƣời nghe (SP2).
Nguyễn Văn Khang cho rằng để có thể giao tiếp đƣợc với nhau, các nhân vật tham gia giao tiếp phải xác nhận “vai” của mình dựa trên mối quan hệ qua lại nhất định nào đó. Còn theo Nguyễn Thiện Giáp “Các nhà ngôn ngữ học đã dùng thuật ngữ vai giao tiếp để biểu hiện vị thế xã hội của nhân vật hội thoại. Có thể nói vai giao tiếp là cơ sở mà các nhân vật hội thoại dựa vào để tổ chức và biểu hiện vị thế xã hội của mình trong giao tiếp” [10, tr. Điểm chung của các quan niệm này là đều nhận thấy rằng vai giao tiếp đƣợc tạo nên dựa trên các mối quan hệ xã hội, tức là xác định vai giao tiếp dựa vào vị thế xã hội của từng đối tƣợng tham gia giao tiếp.
Các phương tiện thể hiện vai giao tiếp Vai giao tiếp đƣợc thể hiện thông qua các phƣơng tiện tham gia giao tiếp nhƣ: + Thông qua các cử chỉ, điệu bộ, khoảng cách không gian, tiếp xúc cơ thể, vẻ mặt, ánh mắt,… Tất các các phƣơng tiện này đƣợc gọi chung là phƣơng tiện phi ngôn ngữ. Đồng thời, các phƣơng tiện phi ngôn ngữ bao giờ cũng thể hiện thái độ, tình cảm của các nhân vật tham gia giao tiếp. 11 + Ngoài các yếu tố cử chỉ điệu bộ, ánh mắt,… vai giao tiếp còn thể hiện thông qua các yếu tố kèm lời (độ gằn, độ to, độ nhỏ của giọng nói,…) và ngôn ngữ. Tùy thuộc vào mối quan hệ với đối tƣợng giao tiếp ngƣời nói có thể lựa chọn vai giao tiếp và các phƣơng tiện phi ngôn ngữ cho phù hợp khi giao tiếp.
Chiến lược giao tiếp Theo Nguyễn Thiện Giáp: “Chiến lược giao tiếp là phương châm và các biện pháp sử dụng các hành vi ngôn ngữ trong giao tiếp nhằm giữ thể diện và tránh đe dọa thể diện của người tham gia giao tiếp” [10, tr. Chiến lƣợc giao tiếp là một loạt những biện pháp tạo thuận lợi cho cuộc giao tiếp thành công và làm cho hành động của ngƣời nói phù hợp với chuẩn mực xã hội. Cuộc giao tiếp thành công khi ngƣời nói vừa truyền tải đƣợc thông tin vừa phải tuân thủ chuẩn mực văn hóa đƣợc xã hội chấp nhận. Ngôn ngữ và giới 1.
Khái niệm về giới tính và giới Giới tính (Sex) là một thuật ngữ của ngành sinh học để chỉ sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới và nữ giới. Con ngƣời khi mới sinh ra đã có những đặc điểm về giới tính. Giới (Gender) chỉ “lớp người trong xã hội phân theo một đặc điểm rất chung nào đó, về nghề nghiệp, địa vị xã hội,v.” [dẫn theo 28, tr. Giới là mối quan hệ và tƣơng quan giữa địa vị xã hội của nữ giới và nam giới trong một bối cảnh cụ thể.
Nghĩa là giới nói lên vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ, bao gồm việc phân công lao động và phân chia các nguồn lợi ích cá nhân. Do đƣợc quy định bởi các yếu tố xã hội nên giới và các quan hệ của giới không giống nhau và không mang tính bất biến, vai trò và hành vi xã hội của mỗi giới thay đổi khi các điều kiện qui định về chúng thay đổi. Vấn đề giới/ giới tính là một chủ đề rất lớn liên quan đến nhiều mặt của đời sống con ngƣời nhƣ nhận thức, thói quen, hành vi ứng xử, xã hội, văn hóa, … 12 “Giới tính có hàm ý không chỉ trong quan hệ về chủng tộc, trong tầng bậc xã hội, pháp luật và thói quen, thể chế giáo dục mà còn tác động đến tôn giáo, giao tiếp xã hội, phát triển xã hội và nhận thức, vai trò trong gia đình và công sở, phong cách xử sự, quan niệm về cái tôi, phân bố nguồn lực, các giá trị thẩm mĩ và đạo dức và nhiều lĩnh vực khác nữa” (Sally Me Connell Ginet) (dẫn theo, Nguyễn Văn Khang [21, tr.