Tổng quan nghiên cứu

Nghệ thuật điêu khắc tượng đài tại Lào giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tái hiện lịch sử hào hùng, bồi đắp lòng tự hào dân tộc và tạo dựng diện mạo cảnh quan kiến trúc đô thị. Kể từ năm 1956 khi bức tượng đài danh nhân đầu tiên là Vua Xay Xet Tha Thi Lath được xây dựng tại thủ đô Viêng Chăn, đến sau dấu mốc lịch sử thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào năm 1975, hệ thống tượng đài ngoài trời đã không ngừng phát triển mạnh mẽ. Hàng loạt công trình quy mô hoành tráng được xây dựng để ghi nhớ các mốc lịch sử trọng đại, tiêu biểu như tượng đài Vua Pha Ngum hoàn thành năm 2003 kỷ niệm 650 năm thành lập Vương quốc Lan Xang, hay tượng đài Vua Chao A Nou Vong dựng năm 2010 nhân dịp 450 năm ngày thành lập thủ đô Viêng Chăn.

Tuy nhiên, trong một thời gian dài, các nghiên cứu mỹ thuật trong nước phần lớn chỉ tiếp cận tượng đài dưới góc độ biểu tượng chính trị, lịch sử đơn thuần hoặc ghi chép dân gian, mà chưa có công trình nào đánh giá toàn diện về mặt ngôn ngữ tạo hình điêu khắc, tỷ lệ giải phẫu và nghệ thuật xử lý không gian ba chiều. Luận văn thạc sĩ mỹ thuật với dung lượng 76 trang nội dung và 12 trang phụ lục ảnh minh họa đã giải quyết trọn vẹn khoảng trống học thuật này. Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là tập hợp, hệ thống hóa và phân tích sâu sắc các giá trị tạo hình của hình tượng danh nhân trong điêu khắc tượng đài giai đoạn 1956 đến 2015 trên phạm vi cả nước. Thông qua việc phân tích hơn 10 công trình tượng đài tiêu biểu, công trình mang lại giá trị học thuật to lớn, đóng góp trực tiếp vào công tác bảo tồn di sản, định hướng quy hoạch đô thị và phục vụ phát triển du lịch văn hóa bền vững cho đất nước Triệu Voi.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận mỹ thuật học hiện đại kết hợp với mỹ học Mác - Lênin về nghệ thuật phục vụ đời sống nhân dân. Hai lý thuyết cốt lõi được ứng dụng xuyên suốt gồm lý thuyết không gian ba chiều trong nghệ thuật điêu khắc hoành tráng và lý thuyết chất cảm tạo hình bề mặt. Trong đó, hệ thống khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: hình tượng danh nhân lịch sử, ngôn ngữ hình khối điêu khắc, không gian cảnh quan quy hoạch và không gian tự thân của tác phẩm.

Theo lý thuyết điêu khắc, hình khối là phương tiện vật chất cơ bản để truyền tải hình dáng và biểu đạt tinh thần nhân vật trong không gian thực. Việc xử lý các cặp phạm trù tương phản như khối lồi và khối lõm, khối đặc và khối rỗng, khối động và khối tĩnh quyết định trực tiếp tới phong cách nghệ thuật của tác giả. Bên cạnh đó, khái niệm chất cảm nhấn mạnh sự tương tác giữa bản chất vật liệu như đồng, đá, bê tông với ánh sáng tự nhiên, tạo nên những rung cảm thẩm mỹ đặc trưng cho công chúng thưởng ngoạn từ cự ly xa đến gần.

Phương pháp nghiên cứu

Để làm sáng tỏ đối tượng nghiên cứu trong phạm vi 60 năm lịch sử từ năm 1956 đến 2015, luận văn đã xác lập cỡ mẫu gồm 10 cụm công trình tượng đài danh nhân tiêu biểu nhất, phân bổ đồng đều tại 3 miền Bắc, Trung và Nam của Lào. Phương pháp chọn mẫu chủ đích được áp dụng nhằm ưu tiên các công trình đại diện cho các vị vua dựng nước, các thủ lĩnh khởi nghĩa chống ngoại xâm và các nhà lãnh đạo cách mạng tiền bối có tầm vóc vĩ đại.

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập thông qua quy trình điền dã thực địa công phu tại các địa phương như Viêng Chăn, Luang Prabang, Khammouane, Savannakhet, Champasak và Sê Kông. Tác giả tiến hành đo đạc kích thước thực tế, ghi chép hiện trạng, chụp ảnh đa góc độ và phỏng vấn trực tiếp cư dân bản địa để ghi nhận cảm nhận cộng đồng. Đồng thời, nguồn tư liệu thành văn được đối chiếu kỹ lưỡng từ các văn bia, tài liệu lịch sử, sách chuyên khảo và các luận văn thạc sĩ, tiến sĩ xuất bản trong giai đoạn 2010 đến 2016. Luận văn lựa chọn phương pháp phân tích mỹ thuật học liên ngành kết hợp với phương pháp so sánh nghệ thuật đối chứng. Lý do lựa chọn là vì điêu khắc tượng đài ngoài trời có mối quan hệ phụ thuộc mật thiết vào cảnh quan tự nhiên và kiến trúc đô thị; chỉ có cách tiếp cận liên ngành mới giải mã được sự tương tác giữa tỷ lệ hình khối, chất liệu bề mặt và chiều sâu văn hóa tâm linh của từng công trình trong thời gian nghiên cứu khóa học 2015 đến 2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu khẳng định chất liệu đồng chiếm ưu thế áp đảo với hơn 80% công trình tượng đài danh nhân tiêu biểu được xây dựng tại Lào trong giai đoạn 1956 đến 2015. Tính dẻo dai và khả năng chống chịu thời tiết nhiệt đới khắc nghiệt của đồng cho phép các nhà điêu khắc thể hiện các bố cục phức tạp, tiêu biểu như tượng Chủ tịch Kaysone Phomvihane cao 8 mét cả bệ tại thủ đô Viêng Chăn hoàn thành năm 1992, hay tượng Pha Nha Si Khot Ta Bong dựng năm 2008 tại Khammouane. Chất liệu đá trắng và bê tông chỉ chiếm khoảng dưới 20%, chủ yếu xuất hiện ở các công trình khuôn viên giáo dục hoặc y tế như tượng Chủ tịch Souphanouvong tại Trường Đại học Souphanouvong.

Thứ hai, nghệ thuật tạo hình tượng đài danh nhân Lào có sự phân định rõ ràng giữa hai dạng thức quy mô: tượng toàn thân hoành tráng và tượng bán thân chân dung. Tượng toàn thân thường mang tính sử thi mạnh mẽ, sử dụng các mảng khối lớn, dứt khoát để làm nổi bật khí phách kiên cường, uy nghiêm của các nhân vật lịch sử. Ngược lại, các tượng bán thân tại các tỉnh thành lại được tạc theo tỷ lệ 1:1 sát với kích thước cơ thể thực, đặt trên bệ ngang tầm mắt nhằm đem lại cảm giác gần gũi, ấm áp và gắn bó mật thiết với quần chúng lao động.

Thứ ba, kỹ thuật pha trộn hợp kim đồng ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả thị giác của tác phẩm dưới ánh sáng mặt trời. Kết quả phân tích cho thấy việc ứng dụng tỷ lệ 15% thiếc tạo ra sắc đồng vàng trang trọng, trong khi tỷ lệ 16% đến 25% thiếc cho sắc vàng trắng thanh thoát, giúp làm nổi bật các chi tiết nếp gấp trang phục dân tộc tinh xảo trên tượng Vua Pha Ngum và Vua Chao A Nou Vong.

Thứ tư, nghệ thuật xử lý không gian tự thân đã đạt được bước tiến xuất sắc. Tiêu biểu như tại tượng đồng đồng chí Nouhak Phoumsavanh xây dựng năm 2015 tại Savannakhet, tác giả đã khéo léo diễn tả tà áo khoác ngoài bay nhẹ trong gió kết hợp bàn tay khép hờ vào ngực, mở ra khoảng cách thị giác đa tầng giữa hai lớp áo, xua tan cảm giác nặng nề vốn có của khối kim loại đúc.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân tạo nên sự phát triển nhảy vọt của hệ thống tượng đài danh nhân bắt nguồn từ công cuộc đổi mới toàn diện của Đảng và Nhà nước Lào sau Đại hội IV năm 1986. Nền kinh tế mở cửa thúc đẩy tốc độ đô thị hóa nhanh chóng, kéo theo nhu cầu cấp thiết về việc xác lập các biểu tượng văn hóa công cộng để giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ tương lai.

So sánh với các nghiên cứu trước đây như luận án tiến sĩ của My Sing Chan Bout Dy năm 2014 vốn chỉ tập trung phân tích bối cảnh chính trị - xã hội, công trình của tác giả Soulisak Phaitho đã đào sâu vào bản chất tạo hình của ngôn ngữ điêu khắc. Nghiên cứu chỉ ra rằng tượng đài tại Lào không đơn thuần là một khối vật chất tĩnh tại mà là một trung tâm sinh hoạt tâm linh và lễ hội cộng đồng. Người dân định kỳ vào các ngày rằm mùng 5, mùng 8 và 15 âm lịch đều mang lễ vật như nến, hoa, mark beng đến chiêm bái, biến không gian tượng đài thành nơi kết nối thiêng liêng giữa quá khứ và hiện tại.

Để trực quan hóa các phát hiện này, toàn bộ dữ liệu khảo sát có thể được hệ thống hóa qua biểu đồ cột thể hiện chiều cao công trình từ 2 mét đến 8 mét tương ứng với từng mốc lịch sử, kết hợp cùng biểu đồ tròn biểu diễn cơ cấu chất liệu với đồng chiếm trên 80%, đá khoảng 10% và bê tông khoảng 10%. Bảng tổng hợp đối chiếu này giúp các nhà nghiên cứu dễ dàng nhận diện bước chuyển đổi phong cách từ tả thực chi tiết sang khái quát hóa tượng trưng. Tuy nhiên, luận văn cũng thẳng thắn chỉ ra điểm hạn chế: một số tác phẩm còn quá nặng về tư duy khối đặc, thiếu các khoảng mở rỗng, khiến tượng khi quan sát ngược sáng từ khoảng cách trên 20 mét dễ bị biến thành bóng đen khó nhận diện đường nét.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, ban hành quy hoạch cảnh quan đồng bộ cho toàn bộ hệ thống tượng đài ngoài trời, hướng tới mục tiêu 100% công trình điêu khắc danh nhân được tích hợp hài hòa với không gian cây xanh, hồ nước và tầm nhìn kiến trúc đô thị xung quanh trong vòng 3 năm tới; Bộ Thông tin, Văn hóa và Du lịch Lào chịu trách nhiệm chính trong việc xây dựng và thực thi quy chuẩn này.

Thứ hai, thiết lập quy trình kỹ thuật bảo dưỡng và phục hồi định kỳ với tần suất 12 tháng một lần đối với toàn bộ các tượng đài đúc bằng đồng trên cả nước, nhằm chủ động xử lý hiện tượng oxy hóa, mài mòn hóa học và rêu mốc xâm lấn bề mặt; Trung tâm Bảo tồn Di sản Quốc gia phối hợp với các cơ quan quản lý đô thị cấp tỉnh triển khai thực hiện ngay từ quý 1 năm sau.

Thứ ba, hiện đại hóa ngôn ngữ tạo hình trong sáng tác điêu khắc hoành tráng, khuyến khích các nghệ sĩ điêu khắc chủ động lược bỏ các chi tiết trang trí rườm rà mang tính minh họa thô cứng, tăng cường xử lý các khoảng rỗng thẩm mỹ và tạo nhịp điệu tương phản khối mạnh mẽ, đặt mục tiêu tạo ra ít nhất 5 đến 7 mẫu phác thảo tượng đài mang phong cách đương đại xuất sắc trong kế hoạch phát triển mỹ thuật 5 năm.

Thứ tư, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ quét 3D và số hóa toàn diện tư liệu hình học của 100% tượng đài danh nhân lịch sử với độ chính xác đạt trên 95%, hoàn thành trong lộ trình 24 tháng; Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam phối hợp cùng các trường đại học nghệ thuật tại Lào thực hiện nhằm xây dựng bảo tàng số phục vụ công tác giảng dạy mỹ thuật học và quảng bá văn hóa dân tộc ra quốc tế.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà điêu khắc, họa sĩ tạo hình và kiến trúc sư cảnh quan đô thị. Công trình cung cấp hệ thống dữ liệu thực tế mẫu mực về tỷ lệ khối tích, kỹ thuật đúc đồng truyền thống và bài học kinh nghiệm sâu sắc trong việc xử lý tương quan giữa hình khối điêu khắc với không gian ánh sáng tự nhiên ngoài trời.

Thứ hai, giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành Mỹ thuật tạo hình, Lý luận và Lịch sử mỹ thuật. Luận văn là nguồn tài liệu học thuật giá trị cao, trang bị phương pháp luận nghiên cứu liên ngành chặt chẽ và bộ dữ liệu khảo sát 10 cụm tượng đài điển hình trải dài 60 năm lịch sử để phục vụ làm khóa luận, luận văn tốt nghiệp.

Thứ ba, các nhà hoạch định chính sách, cơ quan quản lý văn hóa và cán bộ quy hoạch kiến trúc đô thị tại Lào. Nhóm đối tượng này có thể vận dụng các luận cứ khoa học để xây dựng tiêu chí thẩm định dự án tượng đài công cộng, quản lý chất lượng vật liệu bền vững và bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc.

Thứ tư, các chuyên gia phát triển du lịch, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian và đơn vị lữ hành quốc tế. Tài liệu giúp khai thác chiều sâu câu chuyện lịch sử của các vị anh hùng dân tộc như Vua Pha Ngum, Chao A Nou Vong, Chủ tịch Kaysone Phomvihane để xây dựng các tuyến du lịch di sản độc đáo tại Viêng Chăn, Luang Prabang hay Champasak.

Câu hỏi thường gặp

Chất liệu đồng đóng vai trò như thế nào trong sự thành công của các tượng đài danh nhân tại Lào? Đồng là vật liệu tạo hình tối ưu nhất nhờ tính năng đúc tinh vi, chịu lực tốt và chống chịu thời tiết nhiệt đới khắc nghiệt. Trong thực tế, hơn 80% tượng đài tiêu biểu như Vua Si Sa Vang Vong năm 1973 hay Pha Nha Si Khot Ta Bong năm 2008 đều sử dụng đồng thỏi để đúc, giúp giữ vững đường nét sắc nét qua hàng chục năm chịu tác động ngoại cảnh.

Khái niệm không gian tự thân của tác phẩm điêu khắc tượng đài được hiểu và biểu hiện ra sao? Không gian tự thân là chiều sâu quang học được tạo nên từ chính sự vận động của hình khối, nếp gấp trang phục và độ dày mỏng của mảng miếng. Ví dụ điển hình là tượng Nouhak Phoumsavanh năm 2015, tác giả đã xử lý nếp áo vest bay theo hướng gió để tạo ra các lớp không gian ảo sống động mà không cần thêm phụ kiện ngoại cảnh.

Sự gắn kết giữa giá trị chính trị và văn hóa tâm linh tại các tượng đài danh nhân Lào thể hiện như thế nào? Các tượng đài không chỉ là biểu tượng tôn vinh công trạng lãnh tụ mà còn là trung tâm nghi lễ dân gian truyền thống. Điển hình tại tượng Vua Pha Ngum và Vua Xay Xet Tha Thi Lath, vào các ngày rằm định kỳ hàng tháng và dịp lễ hội lớn, hàng nghìn người dân vẫn đến dâng hoa đăng, cầu nguyện theo đúng phong tục Phật giáo cổ truyền.

Luận văn đã chỉ ra những điểm hạn chế cần khắc phục nào trong nghệ thuật tạo hình tượng đài hiện nay? Một số tác phẩm điêu khắc trước đây còn quá đặc khối, thiếu sự đan xen của các mảng rỗng tạo nhịp điệu thị giác và thiên về minh họa chi tiết rườm rà. Điều này khiến tác phẩm khi quan sát từ cự ly xa trên 20 mét dễ bị biến thành khối đen đặc quánh, làm suy giảm đáng kể hiệu quả thưởng ngoạn của công chúng.

Tượng đài danh nhân đóng góp những giá trị cụ thể nào cho quy hoạch cảnh quan môi trường đô thị? Tượng đài giữ vai trò là điểm nhấn thị giác trung tâm, định hình cấu trúc không gian của toàn bộ quảng trường hay công viên xung quanh. Chẳng hạn tượng Vua A Nou Vong xây dựng năm 2010 đã biến khu vực ven bờ sông Mê Kông tại thủ đô Viêng Chăn thành không gian văn hóa mở, thu hút hàng trăm nghìn lượt khách tham quan mỗi năm.

Kết luận

  • Hệ thống hóa trọn vẹn tiến trình hình thành và phát triển của nghệ thuật điêu khắc tượng đài danh nhân tại Lào trong suốt 60 năm lịch sử từ 1956 đến 2015.
  • Làm sáng tỏ mối quan hệ hữu cơ giữa ngôn ngữ hình khối ba chiều, chất cảm vật liệu và không gian cảnh quan đô thị hoành tráng.
  • Khẳng định tính ưu việt của chất liệu hợp kim đồng trong điêu khắc tượng đài ngoài trời với tỷ lệ ứng dụng vượt trội trên 80% công trình khảo sát.
  • Nhận diện giá trị kép độc đáo của tượng đài danh nhân Lào vừa là công trình nghệ thuật mang ý nghĩa chính trị vừa là không gian sinh hoạt văn hóa tâm linh cộng đồng.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp kỹ thuật, quy hoạch kiến trúc và số hóa 3D mang tính thực tiễn cao nhằm nâng cao chất lượng sáng tạo nghệ thuật điêu khắc trong thời kỳ mới.

Luận văn thạc sĩ mỹ thuật của tác giả Soulisak Phaitho là công trình học thuật tiên phong, đóng góp nền tảng lý luận vững chắc cho chuyên ngành điêu khắc hoành tráng tại Lào. Trong lộ trình 3 đến 5 năm tới, các cơ quan ban ngành cần nhanh chóng triển khai các quy chuẩn quy hoạch không gian và ứng dụng bảo tồn số hóa để gìn giữ các kiệt tác này. Hãy cùng khai phóng và ứng dụng các giá trị nghiên cứu sâu sắc của luận văn vào thực tiễn sáng tác để tôn vinh tầm vóc lịch sử và phát triển nền mỹ thuật tạo hình dân tộc ngày càng thăng hoa.