phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu làm 3 chương như sau: Chƣơng 1. Những vấn đề lý luận chung về thừa kế theo di chúc và hình thức của di chúc Chƣơng 2. Lịch sử hình thành và phát triển pháp luật về hình thức di chúc ở Việt Nam Chƣơng 3. Thực trạng giải quyết tranh chấp hình thức di chúc tại toà án nhân dân và phương hướng hoàn thiện pháp luật về hình thức di chúc ở Việt Nam hiện nay 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỪA KẾ THEO DI CHÚC VÀ HÌNH THỨC CỦA DI CHÚC 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN VỀ THỪA KẾ THEO DI CHÚC 1. Một số vấn đề cơ bản về di chúc và thừa kế theo di chúc 1. Khái niệm di chúc Di chúc đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử nhân loại, với đủ các hình thức khác nhau. Trong Kinh Cựu ước – bộ sách lớn nhất, cổ nhất và nguyên vẹn nhất còn được lưu truyền đến ngày nay, người xưa đã chép lại rằng bản di chúc của Noe đã được viết bằng tay, rồi được ông đóng con dấu của mình lên để chứng thực; hay như việc Jacob, bằng lời nói, đã để lại cho Joseph phần tài sản gấp đôi so với những người con khác của mình.
Có thể câu chuyện từ trong kinh sách tôn giáo không thể là một bằng chứng xác thực cho bất cứ một vấn đề mang tính thực tiễn nào, nhưng ít nhất từ những mẩu chuyện như thế, ta cũng có thể nhận thấy rằng: ngay trong lòng thế giới cổ đại, di chúc đã xuất hiện, và xuất hiện với rất nhiều hình thức đa dạng khác nhau, có thể bằng bản viết tay, cũng có thể chi bằng lời nói. Điều này là minh chứng cho vị trí, vai trò của di chúc trong đời sống xã hội. Di chúc là cơ sở quan trọng nhất để thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết và cũng là cơ sở để xác lập quyền sở hữu di sản của người được hưởng di sản thừa kế đối với di sản thừa kế. Trong thực tế cuộc sống tồn tại hai khái niệm “Di chúc” và “Chúc thư”.
Trong thực tế, di chúc được gọi với nhiều thuật ngữ khác nhau như “Di chúc”, “Chúc thư”, “Chúc ngôn”. Trong đó, “Di chúc” là thuật ngữ dùng để chỉ các di chúc nói chung, “Chúc thư” là thuật ngữ chỉ về các di chúc viết (di chúc văn bản), “Chúc ngôn” là thuật ngữ chỉ về các di chúc miệng. Do đó, tất cả các thuật ngữ này đều là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của mình cho người khác sau khi chết. Về mặt pháp lý, BLDS 2005 chỉ sử dụng thuật ngữ Di chúc, không sử dụng trực tiếp thuật ngữ Chúc thư và Chúc ngôn.
Tuy nhiên, BLDS vẫn qui định về Di chúc bằng văn bản và Di chúc miệng. Theo quy định tại điều 646 Bộ luật dân sự 2005, di chúc được hiểu là “sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”. Di chúc là ý chí chủ quan của người có tài sản định đoạt tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Theo luật gia Ulpian thì: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của chúng ta và ý chí đó được thực hiện sau khi chúng ta chết”[8].
Luật La Mã quy định trong di chúc không được phép “im lặng bỏ qua” đối với hàng thừa kế thứ nhất (các con, nếu con chết thì các cháu). Nếu “im lặng bỏ qua” thì di chúc được coi là vô hiệu cho dù di chúc đó có tuân thủ đầy đủ các điều kiện khác. Ví dụ ông A có ba người con là B, C, D, ông để lại di chúc với nội dung: “Tôi cho hai con tôi là B và C mỗi đứa một nửa tài sản” mà không ghi “truất quyền thừa kế của D” thì di chúc vô hiệu vì đã im lặng bỏ qua D. Nếu A chết tài sản sẽ được chia theo luật cho B, C, D.
Di chúc được thể hiện dưới hai hình thức: bằng văn bản và bằng lời nói. Người thuộc dân tộc thiểu số có quyền lập di chúc bằng chữ viết hoặc tiếng nói của dân tộc mình. Trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe doạ, do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản, thì có thể lập di chúc bằng lời nói. Di chúc bằng lời nói chỉ được coi là hợp pháp, nếu người di chúc bằng lời nói thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng kí tên hoặc điểm chỉ.
Sau 3 tháng, kể từ thời điểm lập di chúc bằng lời nói mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt, thì di chúc bằng lời nói bị huỷ bỏ. Trong trường hợp nội dung di chúc không rõ ràng dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, thì người công bố di chúc và những người thừa kế phải cùng nhau giải thích nội dung di chúc dựa trên ý nguyện đích thực trước đây của 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com người chết, có xem xét đến mối quan hệ của người chết với người thừa kế theo di chúc. Nếu những người này không nhất trí về cách hiểu nội dung di chúc, thì coi như không có di chúc và di sản được thừa kế theo pháp luật. Đặc điểm của di chúc Theo Điều 646 BLDS 2005, di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân trong việc chuyển dịch tài sản của mình cho người khác sau khi chết.
Di chúc có những đặc điểm cơ bản sau đây: Một là, di chúc thể hiện ý chí của người để lại di chúc trong việc định đoạt tài sản của mình. Một trong những ngụyên tắc cơ bản của việc giải quyết thừa kế theo di chúc là phải tôn trọng ý chí của người để lại di sản. Nếu như người để lại di sản lập di chúc về việc phân chia di sản cho người khác thì căn cứ vào nguyện vọng của người để lại di sản được ghi nhận trong bản di chúc, phần tài sản sẽ phải được ưu tiên phân chia theo ý chí của người để lại di sản. Đó chính là sự tôn trọng ý chí của người để lại di sản.
Điều 631 Bộ luật dân sự 2005 quy định: Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Ý chí của người để lại di sản thừa kế được thể hiện qua các quyền của người lập di chúc là: - Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế; - Phân định phần di sản cho từng người thừa kế; - Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng; - Giao nghĩa vụ cho người thừa kế; - Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản. Hai là, di chúc ghi nhận sự chuyển dịch tài sản của người để lại di sản cho người được hưởng thừa kế sau khi người đó chết.
14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Có thể khẳng định di chúc là một giao dịch dân sự đặc biệt. Bộ luật dân sự quy định rõ, giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự. Một giao dịch dân sự có hiệu lực khi thỏa mãn các điều kiện theo quy định tại Điều 122 BLDS. Tính đặc biệt của di chúc được thể hiện ở những khía cạnh sau đây: - Di chúc chỉ phát sinh hiệu lực thực tế khi người để lại di sản thừa kế chết; - Việc định đoạt tài sản thừa kế phải tuyệt đối tuân thủ theo nội dung của di chúc, không được thay đổi hay giải thích nội dung của di chúc; - Việc kiểm chứng/đối chiếu di chúc là rất khó khăn vì người để lại di sản thừa kế đã chết.
Ba là, di chúc chỉ được coi là hợp pháp nếu nó đáp ứng đầy đủ các điều kiện do pháp luật quy định. Di chúc chứa đựng ý chí đơn phương của người để lại di sản thừa kế. Di chúc chỉ phát sinh hiệu lực khi người để lại di sản thừa kế chết. Do vậy, luật pháp yêu cầu di chúc phải đáp ứng những điều kiện nhất định đã được quy định tại điều 652 Bộ luật Dân sự 2005 thì bản di chúc đó mới được coi là hợp pháp và chỉ khi là một bản di chúc hợp pháp thì ý chí của người để lại di sản thừa kế là muốn chuyển dịch tài sản của mình cho ai mới được công nhận và bảo đảm thực hiện.
Trong trường hợp nếu nội dung di chúc không rõ ràng, hoặc nghi ngờ về tính chính xác thì bản di chúc đó có thể bị huỷ bỏ. Bốn là, di chúc chỉ có hiệu lực pháp luật từ thời điểm người lập di chúc chết. Đây là điểm khác biệt cơ bản nhất của di chúc với một hợp đồng dân sự. Nếu hợp đồng dân sự có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết hợp đồng thì thời điểm bắt đầu có hiệu lực của di chúc được xác lập kể từ khi người lập ra nó chết.
Năm là, Di chúc luôn trong tình trạng có thể bị người lập ra nó huỷ bỏ. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Xuất phát từ đặc điểm chủ sở hữu có toàn quyền trong việc định đoạt khối tài sản thuộc quyền sở hữu của mình, do đó, người lập di chúc hoàn toàn có quyền huỷ bỏ di chúc mà mình đã lập trước đó để định đoạt lại khối tài sản thuộc quyền sở hữu của mình. Vì vậy, di chúc đã lập không mang tính cố định, nó có thể bị thay đổi bất cứ lúc nào, việc thay đổi này phụ thuộc vào ý chí của người lập di chúc. Bởi lẽ, di chúc chỉ là hình thức để ghi lại ý chí của họ.
Nói một cách khác đi, người lập di chúc có ý định hình thành quan hệ thừa kế giữa mình với người có tên trong di chúc. Sự định đoạt trong di chúc thể hiện ý chí đơn phương, không phụ thuộc vào một cam kết hay một thoả thuận nào.