Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm hoạt động sản xuất kinh doanh Hoạt động sản xuất kinh doanh được hiểu là quá trình tiến hành các công đoạn từ việc khai thác sử dụng các nguồn lực sẵn có trong nền kinh tế để sản xuất ra các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ nhằm cung cấp cho nhu cầu thị trường và thu được lợi nhuận [10].
Khái niệm quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh Quản lý là sự tác động có chủ đích, có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lý và khách thể của quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường. Quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh là sự tác động có chủ đích của nhà quản lý trong doanh nghiệp nhằm quản lý các hoạt động từ việc khai thác sử dụng các nguồn lực sẵn có trong nền kinh tế để sản xuất ra các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ nhằm cung cấp cho nhu cầu thị trường và thu được lợi nhuận cho doanh nghiệp mình [10]. Đặc điểm, vai trò của quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp sản xuất công nghiệp a. Đặc điểm - Sản xuất công nghiệp gồm 2 giai đoạn: Giai đoạn 1: Tác động vào đối tượng lao động, nguyên liệu bằng máy móc Giai đoạn 2: Chế biến nguyên tư liệu sản xuất thành vật phẩm tiêu dùng bằng máy móc.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 - Sản xuất công nghiệp có tính chất tập trung cao độ,đòi hỏi nhiều kỹ thuật và lao động, cần có diện tích nhất định để tạo ra khối lượng sản phẩm. - Sản phẩm công nghiệp bao gồm nhiều ngành phức tạp, được phân công tỉ mỉ và có nhiều ngành để tạo ra sản phẩm cuối cùng. Trong đó công nghiệp nặng (nhóm A) sản phẩm phục vụ cho sản xuất; công nghiệp nhẹ (nhóm B) sản phẩm phục vụ cho tiêu dùng và đời sống con người. Vai trò Muốn hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả không thể không nhắc đến vai trò của công tác quản lý doanh nghiệp.
Thông qua công tác quản lý hoạt động kinh doanh cụ thể là tính toán các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh không những cho phép các nhà quản trị đánh giá được tính hiệu quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (có đạt hiệu quả không và đạt ở mức độ nào) mà còn cho phép phân tích tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến các hoạt động sản xuất kinh doanh, để từ đó tìm ra các biện pháp điều chỉnh phù hợp với thực tế của thị trýờng, phù hợp với khả nãng của doanh nghiệp. Quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh giữ vai trò quan trọng góp phần nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Mỗi doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường đều gặp rất nhiều đối thủ cạnh tranh khác nhau trong cùng ngành cũng như ngoài ngành. Do vậy chỉ có quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh một cách khoa học mới có thể tiết kiệm được chi phí, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm,.
nâng cao được sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Thông qua công tác quản lý, việc sử dụng các nguồn lực, từng yếu tố sản xuất giúp nắm bắt được mối quan hệ giữa yếu tố sản xuất với kết quả hoạt động kinh doanh, chỉ ra nguyên nhân ảnh hưởng tích cực cũng như nguyên nhân hạn chế, ảnh hưởng đến khai thác năng lực sản xuất của doanh nghiệp. Từ đó doanh nghiệp có thể tìm được các giải pháp thích hợp làm lợi cho hoạt động kinh doanh [10], [16]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Nội dung quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp 1. Quy trình quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Quy trình quản lý SXKD của doanh nghiệp phải gọn nhẹ theo hướng thu gọn các đầu mối các cơ quan quản lý và đơn giản thủ tục càng hiệu quả, bởi đặc thù của doanh nghiệp sản xuất ngành than cần lực lượng lớn lao động trực tiếp. Đồng thời, cũng cần phân định rõ vai trò, trách nhiệm và quyền hạn của doanh nghiệp từ khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm tra đánh giá công tác quản lý hoạt động SXKD, để một mặt tránh những sự trùng lặp, chồng chéo trong quá trình thực hiện. Mặt khác, đảm bảo sự công khai và kiểm tra, giám sát lẫn nhau giữa những phòng ban, chức năng, giữa các cơ quan quản lý nhà nước thi hành pháp luật trên địa bàn đối với doanh nghiệp.
Xây dựng tuyên truyền về tầm nhìn, sứ mệnh Hệ thống mục tiêu/chiến lược Kiện toàn tổ chức Ban hành và phổ biến hệ thống quy trình Ứng dụng phần mềm vào quản lý Sơ đồ 1.1: Quy trình quản lý hoạt động SXKD trong doanh nghiệp (Nguồn: [16]) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp * Kế hoạch sản xuất Là một trong những nội dung quan trọng của hoạt động quản lý sản xuất, kế hoạch hoá sản xuất nhằm tối ưu hoá việc sử dụng các nguồn lực. Trên thực tế luôn có sự sai lệch giữa dự báo và thực tế thị trường nơi mà doanh nghiệp có mặt, vì vậy kế hoạch phải được xây dựng dựa trên năng lực sản xuất và các phân tích, đánh giá dự báo nhu cầu của sản phẩm trên thị trường. Kế hoạch sản xuất được điều chỉnh linh hoạt, sao cho thích ứng với mọi biến động của môi trường kinh doanh, đặc biệt là sự biến động về nhu cầu.
* Kế hoạch tiêu thụ Hoạt động tiêu thụ gắn liền với công tác quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh, có mối quan hệ mật thiết với doanh thu cho doanh nghiệp. Do vậy doanh nghiệp cần thực thi các kế hoạch về tiêu thụ như sản lượng, thị trường, khách hàng. Kế hoạch tiêu thụ càng chi tiết, rõ ràng thì khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường càng tốt và ngược lại. * Kế hoạch nhân sự Quản lý nhân sự là một trong những chức năng cơ bản của quá trình quản lý doanh nghiệp, bởi quản lý con người là thực hiện quản lý một trong những nguồn lực quan trọng nhất của doanh nghiệp, và nó không thể thiếu với mọi loại hình doanh nghiệp.
Mục tiêu hàng đầu của quản lý nhân sự là giúp doanh nghiệp đảm bảo một số lượng thích hợp những người lao động với mức trình độ ký năng phù hợp và đúng vị trí và đúng thời điểm, nhằm hoàn thành các mục tiêu của doanh nghiệp. Chính vì thế chúng ta có thể nói, quản lý nhân sự là một công việc khó khăn và phức tạp, bởi vì nó liên quan đến những con người cụ thể, với những hoàn cảnh và các đặc trưng riêng biệt. Kế hoạch nhân sự cho phép các nhà quản lý và bộ phận nhân sự dự báo các nhu cầu tương lai về nhân sự của doanh nghiệp và khả năng cung ứng lao động. [16] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh a. Quản lý sử dụng tài sản Các TSCĐ của doanh nghiệp khi tham gia vào quá trình sản xuất đều bị hao mòn sẽ đến lúc không còn sử dụng được nữa hoặc có thể do nhiều nguyên nhân mà cần thiết phải đổi mới TSCĐ hoặc phải thay thế, trang bị mới TSCĐ cho phù hợp với nhu cầu sản xuất. Các doanh nghiệp thường tính toán một số chỉ tiêu cần thiết để xem xét tình hình sử dụng TSCĐ tại doanh nghiệp sau đó phân tích nhu cầu cần thiết đối với từng loại TSCĐ phục vụ cho sản xuất của doanh nghiệp để lên kế hoạch đầu tư TSCĐ cho đúng. Trong quá trình sử dụng TSCĐ của doanh nghiệp, các bộ phận chi tiết như động cơ, các phụ tùng.
bị hư hỏng, hao mòn hoặc xảy ra những tình trạng không bình thường như dơ dão, cháy hỏng. Ngoài việc phải giữ gìn, vận hành đúng quy trình, quy phạm. doanh nghiệp phải thường xuyên kiểm tra, bảo dưỡng, sửa chữa nhằm đảm bảo năng lực sản xuất bình thường của TSCĐ. Quản lý sử dụng vốn Chính sách quản lý vốn tại các doanh nghiệp nhà nước là một bộ phận quan trọng trong chính sách tài chính đối với doanh nghiệp nói riêng và hệ thống các chính sách tài chính nói chung.
Chính sách quản lý vốn đúng đắn sẽ kích thích sự chuyển dịch các luồng giá trị trong nền kinh tế quốc dân theo hướng huy động mọi nguồn vốn vào đầu tư phát triển sản xuất, tăng khả năng tích tụ và tập trung vốn ở doanh nghiệp, nhờ đó tăng quy mô và tốc độ phát triển sản xuất kinh doanh, tăng nguồn thu vào ngân sách nhà nước. Nguồn thu vào ngân sách nhà nước càng nhiều thì Chính phủ càng có khả năng tài chính để tăng quy mô đầu tư vốn, phát triển các quỹ tài trợ cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; kế đó, quy mô đầu tư và tài trợ từ ngân sách đối với doanh nghiệp càng lớn thì nó sẽ kích thích mạnh mẽ hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế, và qua đó Chính phủ còn thực hiện được yêu cầu điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế theo định hướng đã đề ra. Quy mô vốn bằng tiền là kết quả của nhiều quyết định kinh doanh trong LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 các thời kỳ tại DN. Để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, các DN luôn có nhu cầu dự trữ vốn bằng tiền ở một quy mô nhất định, phục vụ cho các giao dịch hàng ngày như: mua sắm hàng hóa, NVL, thanh toán các chi phí cần thiết, hay ứng phó với những nhu cầu vốn bất thường chưa dự đoán được, hoặc dự trù khi xuất hiện những cơ hội kinh doanh có tỷ suất lợi nhuận cao.
Vốn bằng tiền là loại vốn có tính linh hoạt, tính luân chuyển cao, có thể chuyển đổi để dùng thành các loại tài sản khác. Đây cũng chính là đối tượng của sự gian lận tham ô và tiêu cực trong doanh nghiệp.