CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Hiện nay các nhà đầu tư có xu hướng đầu tư vào những công ty làm ăn có hiệu quả và triển vọng tăng trưởng cao. Lợi nhuận là một trong những yếu tố quan trọng trong việc quyết định giá trị thị trường cổ phiếu và trên thị trường chứng khoán và được các công ty chú ý đến vì phản ánh hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Các công ty niêm yết sẽ có xu hướng tìm cách điều chỉnh lợi nhuận để thu hút các nhà đầu tư. Tác giả xin trình bày một số nghiên cứu trước về vấn đề này: 1.
Đề tài nghiên cứu nước ngoài Nghiên cứu của Peasnell & các cộng sự (2000) sử dụng mô hình nhận diện HVĐCLN của Dechow& các cộng sự(1995)-Modified Jones.Nghiên cứu với một mẫu gồm 1271 quan sát các công ty Anh giai đoạn 1993-1995. Nghiên cứu cho thấy sự gia tăng tỷ lệ thành viên Hội đồng quản trị (HĐQT) bên ngoài làm giảm HVĐCLN và sự hiện diện của một Ủy ban kiểm toán sẽ hỗ trợ vai trò giám sát của HĐQT. Nghiên cứu cũng tìm thấy các công ty có lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động SXKD càng tăng thì càng làm giảm HVĐCLN. Nghiên cứu của Chtourou & các cộng sự (2001) sử dụng mô hình nhận diện HVĐCLN của Jones (1991).Nghiên cứu với một mẫu gồm 3947 công ty Mỹ trên Compustant năm 1996.Kết quả cho rằng tỷ lệ thành viên Ủy ban kiểm toán là thành viên độc lập không điều hành và không phải là quản lý của các công ty khác cũng như mức bồi thường bằng quyền chọn mua cổ phiếu, chuyên môn của Ủy ban kiểm toán thì ảnh hưởng đến HVĐCLN.Nghiên cứu cũng cho thấy tăng tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập không điều hành, tách vai trò Chủ tịch HĐQT và Tổng giám đốc (TGĐ) thì không ảnh hưởng đến HVĐCLN.
Nghiên cứu của Xie & các cộng sự (2003) sử dụng mô hình nhận diện HVĐCLN của Dechow & các cộng sự (1995) – Modified Jones.Nghiên cứu với một mẫu gồm 282 quan sát của các công ty Mỹ trong năm 1992,1994 và 1996. Nghiên cứu cho thấy rằng một quy mô HĐQT lớn, một Ủy ban kiểm toán có chuyên môn về tài chính vàtăng tần số cuộc họp của Ủy ban kiểm toán sẽ làm giảm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 HVĐCLN.Nghiên cứu không có đầy đủ bằng chứng để kết luận tần số cuộc họp của HĐQT và tỷ lệ các thành viên HĐQT bên ngoài có liên quan tới HVĐCLN. Nghiên cứu của Rahman & Ali(2006) sử dụng mô hình nhận diện HVĐCLN của Jones (1991).Nghiên cứu với một mẫu công ty gồm 97 công ty niêm yết ở MaLaysia giai đoạn 2002 – 2003, nghiên cứu cho thấy rằng một HĐQT với quy mô nhỏ sẽ phát huy vai trò giám sát hơn là một HĐQT với quy mô nhỏ sẽ phát huy vai trò giám sát hơn là một HĐQT lớn. Kết quả này ngược với kết quả nghiên cứu Xie & các cộng sự (2003).
Nghiên cứu của Lei(2006) sử dụng mô hình nhận diện HVĐCLNcủa Dechow & các cộng sự (1995) - Modified Jones.Nghiên cứu với một mẫu gồm 344 công ty niêm yết ở Anh giai đoạn 2000–2002, nghiên cứu cho thấy việc tách vai trò của Chủ tịch HĐQT với TGĐ, tăng tỷ lệ thành viên HĐQT bên ngoài sẽ tác động làm giảm HVĐCLN. Nghiên cứu của Muhardi (2010) sử dụng mô hình nhận diện HVĐCLN của Jones(1991) nghiên cứu với một số mẫu gồm 128 công ty Indonesia giai đoạn 2005–2007, nghiên cứu cho thấy sự tách biệt vai trò Chủ tịch HĐQT với TGĐ và tỷ lệ cổ đông kiểm soát lớn hơn 51 % thì tác động làm giảm HVĐCLN. Nghiên cứu của Park & Shin (2004) sử dụng mô hình nhận diện HVĐCLN lợi nhuận của Dechow.Nghiên cứu mẫu quan sát gồm 539 quan sát của công ty Canada giai đoạn 1991–1997, nghiên cứu cho thấy sự hiện diện của HĐQT và sự hiện diện của cổ đông là tổ chức thì làm giảm HVĐCLN. Tăng tỷ lệ thành viên HĐQT làm tăng HVĐCLN.
Các thành viên HĐQT bên ngoài thiếu sự tinh tế trong lĩnh vực tài chính hay thiếu sự truy cập thông tin để phát hiện HVĐCLN. Nghiên cứu của Gulzar & Wang (2011)sử dụng mô hình nhận diện HVĐCLN của Jones (1991).Nghiên cứu mẫu quan sát gồm 1009 quan sát của công ty Trung Quốc giai đoạn 2002 – 2006, nghiên cứu cho thấy rằng việc tách biệt vai trò Chủ tịch HĐQT và TGĐ, tăng tỷ lệ thành viên HĐQT nữ, tăng tần số cuộc họp HĐQT và tập trung sở hữu thì sẽ làm giảm HVĐCLN. Nghiên cứu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 không tìm ra mối quan hệ giữa Quy mô HĐQT, tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập với HVĐCLN. Nghiên cứu của Niu (2006) về quản trị doanh nghiệp và chất lượng của lợi nhuận kế toán.Mẫu dữ liệu nghiên cứu là công ty ở Canada trong giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2004.
Thông qua phương pháp hồi quy tuyến tính, tác giả đã chứng minh được: chất lượng quản trị toàn diện (bao gồm thành phần hội đồng quản trị, tỷ lệ sở hữu ban quản lý, quyền cổ đông) thì có mối tương quan ngược chiều đến mức độ của dồn tích bất thường và ảnh hưởng thuận chiều với lợi nhuận giữ lại. Ngoài ra độ lớn của khoản dồn tích bất thường có mối quan hệ ngược chiều với mức độc lập của thành viên hội đồng quản trị. Nghiên cứu của Johari và cộng sự (2008) về ảnh hưởng hội đồng quản trị độc lập, năng lực, quyền sở hữu lên hành vi điều chỉnh lợi nhuận ở Malaysia. Với dữ liệu nghiên cứu của 224 công ty phi tài chính trong giai đoạn 2001 – 2003.
Tác giả đã tìm ra được: khi quyền sở hữu của ban quản lý vượt qua ngưỡng 25% thì có thể khiến các nhà quản lý dẫn đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Việc chủ tịch HĐQT kiêm nhiệm giám đốc đều hành không ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty ở Malaysia. Nghiên cứu của Cornett và cộng sự (2008) về quản trị doanh nghiệp và phải trả cho hiệu quả hoạt động: tác động của hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Dữ liệu mẫu gồm có 834 công ty, trong giai đoạn từ năm 1994 đến năm 2003.
Bằng phương pháp thống kê hồi quy tuyến tính, Cornett và cộng sự đã tìm thấy được hành vi điều chỉnh lợi nhuận không có mối quan hệ với quy mô hội đồng quản trị, quy mô doanh nghiệp và tuổi của giám đốc điều hành. Một nghiên cứu của Hutchinson và cộng sự (2008) về tác động sự thay đổi cách quản trị doanh nghiệp, hoạt động quản trị và HVĐCLN.Thông qua 200 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2005. Bằng phương pháp hồi quy ảnh hưởng cố định, tác giả đã tìm ra được: các hoạt động quản trị thì quan trọng trong việc hạn chế HVĐCLN. Mặt khác, cho thấy bằng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 chứng rằng việc tăng sở hữu của BGĐ sẽ góp phần làm tăng hành vi thao túng lợi nhuận của BGĐ.
Năm 2008, nghiên cứu của Abdul Rahman và Mohamed Alivề HĐQT, BKS, văn hóa và HVĐCLN, bằng chứng ở Malaysia. Thời gian nghiên cứu từ năm 2002 đến năm 2003 của 97 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán của Bursa ở Malaysia. Thông qua phương pháp hồi quy thống kê, Abdul Rahman và Mohamed Ali đã nghiên cứu được: HVĐCLN có mối quan hệ cùng chiều với quy mô HĐQT. Có mối quan hệ đáng kể giữ cơ cấu quản trị doanh nghiệp (tính độc lập của hội động quản trị và ban kiểm soát) và HVĐCLN.
Nghiên cứu của Abdulah (2013) về các HVĐCLN bằng chứng từ các công ty niêm yết ở Malaysia, với dữ liệu nghiên cứu từ năm 2002 đến năm 2007 của 1. Bằng phương pháp thống kê hồi quy OLS, tác giả đã tìm ra được: có mối tương quan âm giữa HVĐCLN và sự kiêm nhiệm của Ban quản lý; có mối tương quan dương giữa đặc điểm của BKS và không tìm thấy mối quan hệ với quy mô HĐQT công ty. Bên cạnh đó, tác giả cũng tìm ra được ý nghĩa thống kê giữa quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy tài chính, hiệu quả hoạt động, tốc độ tăng trưởng và HVĐCLN. Nghiên cứu của Saleem và Rehman (2011) về tác động chỉ số thanh toán lên lợi nhuận (được đo lường bằng ROA, ROE, ROI).
Thông qua dữ liệu của các niêm yết trên thị trường chứng khoán Pakistan từ năm 2004 đến năm 2009. Bằng phương pháp thống kê đa biến, Saleem và Rehman (2011) đã tìm ra được: tỷ số thanh toán hiện hành tác động lên ROA trong khi đó ROE không có tác động lên tỷ số thanh toán ngắn hạn, tỷ số thanh toán hiện hành và tỷ số thanh toán nhanh. Nghiên cứu của Salman và Yazdanfar (2012) về lợi nhuận của các công ty máy tính ở Thụy Điển.Với dữ liệu nghiên cứu từ năm 2007 hơn 2.500 công ty máy tính.Thông quan phương pháp hồi quy đa biến OLS. Salman và Yazdanfar (2012) đã tìm ra được kết quả như sau: tốc độ tăng trưởng và tổng sản lượng sản xuất có mối tương quan đến lợi nhuận.
Quy mô doanh nghiệp có ý nghĩa thống kê, tác động LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 ngược chiều đến lợi nhuận của công ty. Thời gian hoạt động công ty không có tác động đến lợi nhuận. Đề tài nghiên cứu trong nước Nghiên cứu của Pham Thị Bích Vân(2012) sử dụng mô hình nhận diện HVĐCLN.Một mẫu nghiên cứu gồm 54 doanh nghiệp niên yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM(HOSE) trong năm 2010, nghiên cứu cho thấy mô hình Modified Jones không hiệu quả trong việc nhận diện HVĐCLN của các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE. Tác giả đã đề nghị một mô hình khác để nhận diện HVĐCLN cho các doanh nghiệp Việt Nam.
Nghiên cứu của Huỳnh Thị Vân (2012)“Nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận ở các công ty cổ phần trong năm đầu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”.Nghiên cứu được chọn ngẫu nhiên từ tổng thể ban đầu là các công ty cổ phần niêm yết trên 2 sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội và TP.HCM có năm đầu niêm yết trong giai đoạn 2008–2010, nghiên cứu này nhằm giúp cho đối tượng sử dụng thông tin nhận ra khả năng công ty có thể thay đổi lợi nhuận theo mong muốn. Bằng việc thu thập số liệu thực tế để kiểm chứng HVĐCLN của nhà quản trị thông qua các mô hình nghiên cứu quản trị lợi nhuận. Nghiên cứu trả lời được thắc mắc của nhà đầu tư về tính trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận trên BCTC của các công ty trong năm đầu niêm yết trên thị trường chứng khoán. Từ đó, giúp cho các đối tượng sử dụng thông tin có nhìn nhận đúng đắn hơn về BCTC của các công ty niêm yết trong việc nghiên cứu đưa ra quyết định đầu tư.