Tổng quan nghiên cứu

Quảng Ninh sở hữu chiều dài bờ biển hơn 250 km cùng ngư trường rộng lớn trên 6.100 km2, tạo tiền đề vững chắc cho việc khai thác và chế biến hải sản. Trong cơ cấu kinh tế địa phương năm 2017, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) đạt mức tăng trưởng ấn tượng 10,2%, thu nhập bình quân đầu người chạm mốc 4.500 USD/năm và quy mô kinh tế ước đạt 122.576 tỷ đồng. Chả mực Hạ Long là đặc sản truyền thống nổi tiếng, được lựa chọn là sản phẩm mũi nhọn trong chương trình Mỗi xã, phường một sản phẩm (OCOP Quảng Ninh) và định hướng phát triển thành sản phẩm chủ lực cấp quốc gia theo Quyết định số 2441/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Tuy nhiên, hoạt động cung ứng sản phẩm chả mực Hạ Long trong giai đoạn 2015-2017 vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Chuỗi cung ứng chủ yếu vận hành theo phương thức truyền thống, nhỏ lẻ, thiếu tính liên kết chặt chẽ giữa ngư dân khai thác, thương lái thu gom và các cơ sở chế biến. Tình trạng biến động giá nguyên liệu mực mai đầu vào lên tới 20-30% vào các mùa cao điểm du lịch khiến hiệu quả kinh tế của toàn chuỗi chưa tương xứng với tiềm năng.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là hệ thống hóa cơ sở lý luận về chuỗi cung ứng nông sản, đánh giá toàn diện thực trạng vận hành của 6 nhóm tác nhân trong chuỗi chả mực Hạ Long giai đoạn 2015-2017, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm tối ưu hóa chuỗi giá trị giai đoạn 2019-2025. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc nâng cao thu nhập cho hơn 734 nghìn lao động của tỉnh, tăng 15-20% giá trị gia tăng toàn chuỗi và bảo vệ uy tín thương hiệu chỉ dẫn địa lý của địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết quản trị chuỗi cung ứng hiện đại của Chopra & Meindl (2001) và Michael Hugos (2003), xác định chuỗi cung ứng là mạng lưới các tổ chức liên kết trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm thỏa mãn nhu cầu khách hàng thông qua việc tối ưu hóa ba dòng chảy huyết mạch: dòng sản phẩm, dòng thông tin và dòng tài chính. Đồng thời, luận văn kết hợp khung phân tích chuỗi giá trị nông nghiệp của Kaplinsky & Morris (2001) để bóc tách sự phân chia lợi ích kinh tế, chi phí trung gian và giá trị tăng thêm giữa các mắt xích.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm:

  • Tác nhân chuỗi cung ứng: Bao gồm nhà cung cấp nguyên liệu (ngư dân), người thu gom, cơ sở chế biến, nhà bán buôn, nhà bán lẻ và người tiêu dùng cuối cùng.
  • Liên kết dọc (Vertical Linkage): Mối quan hệ hợp tác thương mại giữa các tác nhân ở các công đoạn kế tiếp nhau như giữa người đánh bắt và cơ sở chế biến.
  • Liên kết ngang (Horizontal Linkage): Sự hợp tác giữa các tác nhân trong cùng một khâu sản xuất, điển hình là mạng lưới giữa các cơ sở chế biến thuộc Hiệp hội Chả mực Hạ Long.
  • Giá trị gia tăng (Value Added - VA) và Thu nhập hỗn hợp (Mixed Income - MI): Thước đo hiệu quả kinh tế sau khi trừ đi chi phí trung gian (IC), khấu hao tài sản và chi phí thuê mướn lao động.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2015-2017 từ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quảng Ninh, Cục Thống kê và Ban chỉ đạo Nông thôn mới tỉnh. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa bằng bảng hỏi cấu trúc trong giai đoạn 2017-2018 với tổng dung lượng 180 mẫu điều tra. Phương pháp chọn mẫu áp dụng kỹ thuật điều tra toàn bộ đối với 30/30 cơ sở sản xuất chế biến chả mực đang hoạt động trên địa bàn thành phố Hạ Long (đạt tỷ lệ 100%), kết hợp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên cho 5 nhóm tác nhân còn lại gồm: 30 hộ đánh bắt mực mai, 30 thương lái thu gom, 30 đại lý bán buôn, 30 điểm bán lẻ và 30 người tiêu dùng.

Việc chọn mẫu toàn bộ cơ sở chế biến giúp loại bỏ sai số chọn mẫu, phản ánh chính xác bức tranh ngành hàng. Dữ liệu thu thập được xử lý trên phần mềm Microsoft Excel bằng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh kinh tế và phân tích ma trận SWOT (Điểm mạnh - Điểm yếu - Cơ hội - Thách thức). Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu bao gồm Giá trị sản xuất (GO = P x Q), Chi phí trung gian (IC), Giá trị gia tăng (VA = GO - IC) và Thu nhập hỗn hợp (MI).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích định lượng từ 180 phiếu khảo sát đã chỉ ra cấu trúc vận hành thực tế của chuỗi cung ứng chả mực Hạ Long:

Thứ nhất, có sự bất bình đẳng rõ rệt trong cơ cấu phân chia giá trị gia tăng và lợi nhuận giữa các tác nhân. Khâu chế biến và bán lẻ chiếm tỷ trọng áp đảo, tạo ra hơn 65% tổng giá trị gia tăng của toàn chuỗi. Ngược lại, các hộ ngư dân đánh bắt mực mai chịu tới hơn 70% tổng chi phí đầu tư (nhiên liệu dầu diesel, hao mòn tàu thuyền, ngư lưới cụ) và rủi ro thời tiết nhưng chỉ nhận được khoảng 18-22% tổng thu nhập hỗn hợp của chuỗi.

Thứ hai, quy mô chế biến còn phân tán và manh mún. Trong tổng số 30 cơ sở chế biến khảo sát tại Hạ Long, có đến 75% cơ sở hoạt động theo mô hình kinh tế hộ gia đình với quy mô nhỏ dưới 10 lao động. Năng suất bình quân chỉ đạt 50-150 kg sản phẩm/ngày. Tỷ lệ cơ sở ứng dụng thiết bị hỗ trợ bán tự động đạt chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm chỉ chiếm khoảng 25%, phần lớn vẫn duy trì công đoạn giã tay truyền thống nhưng chưa kiểm soát chặt chẽ nhiệt độ bảo quản nguyên liệu.

Thứ ba, mức độ liên kết giữa các mắt xích trong chuỗi rất yếu. Trên 85% các giao dịch thu mua mực mai giữa ngư dân, thương lái thu gom và cơ sở sản xuất thực hiện thông qua hợp đồng miệng, không có văn bản pháp lý ràng buộc. Điều này dẫn đến sự bấp bênh về nguồn cung, tỷ lệ mực nguyên liệu đạt chuẩn loại 1 chỉ đạt khoảng 60-65% vào mùa biển động.

Thứ tư, vai trò điều phối của Hiệp hội Chả mực Hạ Long chưa thực sự phát huy tối đa. Tỷ lệ thành viên tham gia các hoạt động kiểm tra chất lượng chéo định kỳ chỉ đạt dưới 40%, dẫn đến tình trạng xuất hiện chả mực giả danh nguồn gốc Hạ Long trên thị trường ngoại tỉnh, gây tổn hại thương hiệu chung.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của những hạn chế trên xuất phát từ thói quen kinh doanh mua đứt - bán đoạn và hạ tầng logistics nghề cá còn lạc hậu. Các kho lạnh bảo quản mực mai trên tàu khai thác của ngư dân chủ yếu dùng đá cây truyền thống, nhiệt độ bảo quản chỉ đạt từ -3°C đến -5°C, thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn cấp đông sâu -18°C. Do đó, tỷ lệ hao hụt chất lượng nguyên liệu sau những chuyến biển dài ngày lên tới 10-15%.

Dữ liệu kinh tế được lượng hóa qua hệ thống bảng biểu chi tiết (như bảng phân tích hình thành giá và giá trị gia tăng theo từng kênh phân phối) cùng các sơ đồ luồng luân chuyển hàng hóa trong nghiên cứu cho thấy sự tương đồng với các nghiên cứu trước đây về chuỗi cung ứng thủy sản Việt Nam của TS. Lê Anh Tuấn (2009) và chuỗi lúa gạo Hải Hậu của Lê Thị Phượng (2009). Cả ba mô hình đều phản ánh ba "điểm nghẽn" kinh điển: năng lực đáp ứng nguyên liệu thiếu ổn định, hệ thống thông tin thị trường bị đứt gãy và tính cam kết pháp lý giữa các thành viên gần như bằng không. Khi so sánh với mô hình chuỗi rau an toàn tại Sơn La hay chuỗi thực phẩm sạch tại Thanh Hóa (nơi có 14 điểm bán được kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt), chuỗi chả mực Hạ Long còn thiếu sự vào cuộc quyết liệt của các doanh nghiệp đầu tàu đóng vai trò dẫn dắt và bao tiêu sản phẩm.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện chuỗi cung ứng sản phẩm chả mực Hạ Long bền vững đến năm 2025, bốn nhóm giải pháp chiến lược cần được triển khai đồng bộ:

  1. Nâng cấp công nghệ và hạ tầng bảo quản lạnh: Hỗ trợ 100% tàu đánh bắt xa bờ và 30 cơ sở chế biến lắp đặt hệ thống hầm lạnh bảo quản đạt chuẩn -18°C trước năm 2023. Ban hành quy trình chuẩn hóa từ khâu sơ chế, giã mực, chiên đến đóng gói chân không đạt tiêu chuẩn HACCP và ISO 22000. Chủ thể thực hiện: Sở Nông nghiệp & PTNT tỉnh Quảng Ninh phối hợp cùng các chủ cơ sở chế biến.
  2. Thiết lập chuỗi liên kết dọc và hợp đồng kinh tế ràng buộc: Chuyển đổi tối thiểu 70% các giao dịch thu mua mực mai nguyên liệu sang hình thức hợp đồng bao tiêu văn bản có điều khoản bảo hiểm giá vào năm 2025. Vận động thành lập 2 hợp tác xã khai thác mực mai chuyên nghiệp tại các huyện đảo Cô Tô, Vân Đồn nhằm liên kết trực tiếp với cơ sở chế biến. Chủ thể thực hiện: UBND thành phố Hạ Long, Hiệp hội Chả mực Hạ Long và các hợp tác xã thủy sản.
  3. Mở rộng thị trường và số hóa hệ thống truy xuất nguồn gốc: Triển khai dán tem QR code truy xuất nguồn gốc điện tử cho 100% sản phẩm chả mực đủ điều kiện lưu hành. Đẩy mạnh đưa sản phẩm vào hệ thống hơn 50 siêu thị, trung tâm thương mại lớn tại Hà Nội, Hải Phòng và sàn thương mại điện tử, phấn đấu tốc độ tăng trưởng doanh thu kênh bán hiện đại đạt 15-20%/năm giai đoạn 2020-2025. Chủ thể thực hiện: Sở Công Thương tỉnh Quảng Ninh và các nhà phân phối.
  4. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ vốn và quy hoạch mặt bằng: Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh cần bố trí gói tín dụng ưu đãi hỗ trợ 30-50% lãi suất vay cho các cơ sở chế biến đầu tư đổi mới dây chuyền đóng gói, đồng thời quy hoạch phân khu chế biến thủy sản tập trung diện tích 5-10 ha tại ngoại thành Hạ Long nhằm giải quyết triệt để vấn đề ô nhiễm môi trường khu dân cư. Chủ thể thực hiện: UBND tỉnh Quảng Ninh, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Quảng Ninh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Sở Nông nghiệp & PTNT, Sở Công Thương, Ban điều hành Đề án OCOP tỉnh Quảng Ninh sử dụng làm cơ sở dữ liệu thực tiễn để xây dựng quy hoạch phát triển sản phẩm quốc gia và các gói chính sách hỗ trợ kinh tế tập thể.
  • Chủ doanh nghiệp, cơ sở sản xuất và hợp tác xã chế biến: Các đơn vị sản xuất chả mực tại Quảng Ninh và các tỉnh duyên hải có thể tham khảo phương pháp tính toán chi phí trung gian (IC), tối ưu hóa luồng hàng và xây dựng phương án liên kết hợp đồng kinh tế với ngư dân.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học: Là tài liệu tham khảo khoa học có giá trị cao cho chuyên ngành Quản lý kinh tế, Quản trị kinh doanh và Kinh tế nông nghiệp về phương pháp tiếp cận chuỗi giá trị nông lâm thủy sản đặc thù.
  • Các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp logistics: Giúp các ngân hàng thương mại đánh giá chính xác rủi ro dòng tiền trong chuỗi thủy sản để thiết kế các gói tài trợ chuỗi cung ứng, đồng thời hỗ trợ các đơn vị vận tải thiết lập dịch vụ kho lạnh và vận chuyển chuyên dụng.

Câu hỏi thường gặp

Chuỗi cung ứng chả mực Hạ Long hiện nay gồm những tác nhân nào tham gia?
Chuỗi vận hành với 6 nhóm tác nhân chính bao gồm: ngư dân khai thác mực mai tại ngư trường Quảng Ninh, thương lái thu gom trung gian, 30 cơ sở sản xuất chế biến tại Hạ Long, các nhà buôn bán sỉ, hệ thống cửa hàng bán lẻ/siêu thị và khách hàng tiêu dùng cuối cùng.

Vì sao giá nguyên liệu mực mai đầu vào thường xuyên biến động mạnh?
Biến động giá từ 15-30% xuất phát từ hai nguyên nhân: sản lượng đánh bắt phụ thuộc lớn vào mùa vụ thời tiết và hơn 85% giao dịch giữa ngư dân với cơ sở chế biến là thỏa thuận miệng, thiếu vắng các hợp đồng bao tiêu dài hạn có cam kết ổn định giá.

Khâu nào trong chuỗi cung ứng đang tạo ra giá trị gia tăng cao nhất?
Số liệu phân tích thực tế cho thấy khâu chế biến và bán lẻ tạo ra hơn 65% tổng giá trị gia tăng của chuỗi. Ngược lại, ngư dân trực tiếp đánh bắt chịu hơn 70% chi phí vận hành nhưng chỉ nhận được khoảng 18-22% lợi nhuận sau khi trừ chi phí.

Hiệp hội Chả mực Hạ Long cần làm gì để bảo vệ uy tín thương hiệu?
Hiệp hội cần phối hợp với cơ quan chức năng ban hành bộ quy chuẩn chất lượng thống nhất, áp dụng 100% tem truy xuất nguồn gốc QR code chống hàng giả và thiết lập cơ chế kiểm tra định kỳ để xử lý nghiêm các cơ sở vi phạm an toàn thực phẩm.

Làm thế nào để các cơ sở chế biến quy mô hộ gia đình đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu?
Các cơ sở cần hợp nhất thành hợp tác xã kiểu mới, đầu tư đồng bộ hệ thống kho cấp đông đạt chuẩn -18°C, áp dụng quy trình kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn HACCP hoặc ISO 22000 và chuẩn hóa quy cách bao bì hút chân không.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa hoàn chỉnh khung lý luận và thực tiễn về quản trị chuỗi cung ứng sản phẩm thủy sản đặc thù tại địa phương.
  • Phân tích định lượng toàn diện 180 mẫu khảo sát, bao quát 100% các cơ sở chế biến chả mực trên địa bàn thành phố Hạ Long giai đoạn 2015-2017.
  • Chỉ rõ các điểm nghẽn then chốt về sự mất cân đối phân chia lợi nhuận, hạ tầng kho lạnh lạc hậu và sự thiếu vắng hợp đồng liên kết pháp lý.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp khả thi với lộ trình triển khai rõ ràng từ năm 2019 đến năm 2025 nhằm gia tăng 15-20% giá trị toàn chuỗi.
  • Các nhà quản lý, chủ doanh nghiệp và nhà nghiên cứu quan tâm đến mô hình phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững nên khai thác toàn bộ dữ liệu chi tiết trong luận văn để ứng dụng vào công tác thực tiễn.