CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Một số quan điểm về chuỗi giá trị 1. Quan điểm của Filière (Chuỗi - Mạch) Luồng tư tưởng nghiên cứu này gồm các trường phái tư duy và truyền thống nghiên cứu khác nhau.
Khởi đầu phương pháp này được dùng để phân tích hệ thống nông nghiệp của các nước đang phát triển trong hệ thống thuộc địa của Pháp (Browne, J. Phân tích chủ yếu làm công cụ để nghiên cứu cách thức mà các hệ thống sản xuất nông nghiệp (đặc biệt là cao su, bông, cà phê và dừa) được tổ chức trong bối cảnh các nước phát triển (Eaton, c. Theo luồng nghiên cứu này, khung Filière chú trọng đặc biệt đến cách các hệ thống sản xuất địa phương được kết nối với công nghiệp chế biến, thương mại, xuất khẩu và tiêu dùng cuối cùng (Fresh Studio Partnars, Marije Boomsma). Do đó, khái niệm chuỗi (Filière) luôn bao hàm nhận thức kinh nghiệm thực tế được sử dụng để lập sơ đồ dòng chuyển động của các hàng hóa và xác định những người tham gia vào hoạt động (Pagh, J.
Phương pháp chuỗi có 2 luồng, có vài điểm chung với phân tích chuỗi giá trị đó, gồm: - Việc đánh giá chuỗi về mặt kinh tế và tài chính chú trọng vào vấn đề tạo thu nhập và phân phối lợi nhuận trong chuỗi hàng hóa, phân tích các chi phí và thu nhập giữa các thành phần kinh doanh nội địa và quốc tế để phân tích sự ảnh hưởng của chuỗi đến nền kinh tế quốc dân và sự đóng góp của nó vào GDP. - Phân tích có tính chú trọng và chiến lược của phương pháp chuỗi, được sử dụng nhiều nhất ở Trường Đại học Paris - Nanterre, một sổ tổ chức nghiên cứu như CIRAD và INRA và các tổ chức phi chính phủ làm về phát triển nông nghiệp đã nghiên cứu một cách có hệ thống sự tác động lẫn nhau của các mục tiêu, các cản trở và kết quả của mỗi bên có liên quan trong chuỗi, các chiến lược cá nhân và tập thể, cũng như các hình thái quy định mà Hugon (1985) đã xác định là có bốn loại liên quan đến chuỗi hàng hóa ở Châu Phi được phân tích, gồm: Quy định trong nước; LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Quy định về thị trường; Quy định của nhà nước; Quy định kinh doanh của nông nghiệp quốc tế. Moustier và Leplaideur (1989) đã đưa ra một khung phân tích về tổ chức chuỗi hàng hóa (Lập sơ đồ, các chiến lược cá nhân và tập thể, hiệu suất về mặt giá cả và tạo thu nhập, có tính đến vấn đề chuyên môn hóa của nông dân và thương nhân ngành thực phẩm so với chiến lược đa dạng hóa). Công trình nghiên cứu của Micheal Porter Luồng nghiên cửu thứ hai liên quan đến công trình nghiên cứu của Micheal Porter (1985) về các lợi thế cạnh tranh.
Porter đã dùng khung phân tích chuỗi giá trị để đánh giá xem một công ty nên tự định vị mình như thế nào trên thị trường và trong mối quan hệ với các nhà cung cấp, khách hàng và đối thủ cạnh tranh khác. Ý tưởng về lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp có thể được tóm tắt như sau: Một công ty có thể cung cấp cho khách hàng một mặt hàng hoặc một dịch vụ có giá trị tương đương với đối thủ cạnh tranh của mình như thế nào? Hay ta làm thế nào để một doanh nghiệp có thể sản xuất một mặt hàng mà khách hàng sẵn sàng mua với giá cao hơn, hoặc chiến lược tạo sự khác biệt trên thị trường. Trong bối cảnh này, chuỗi giá trị được sử dụng như một khung khái niệm mà các doanh nghiệp có thể dùng để tìm ra các nguồn lợi thế cạnh tranh thực tế và tiềm tàng của mình để dành lợi thế trên thị trường. Hơn thế nữa, Porter lập luận ràng các nguồn lợi thế cạnh tranh không thể tìm ra nếu nhìn vào công ty như một tổng thể.
Một công ty cần được phân tách thành một loạt các hoạt động và có thể tìm thấy lợi thế cạnh tranh trong một (hoặc nhiều hơn) những hoạt động đó. Porter phân biệt giữa các hoạt động sơ cấp, trực tiếp góp phần tăng thêm giá trị cho sản xuất hàng hóa (hoặc dịch vụ) và các hoạt động hỗ trợ có ảnh hưởng gián tiếp đến giá trị cuối cùng của sản phẩm. Trong khung phân tích của Porter, khái niệm về chuỗi giá trị không trùng với ý tưởng về chuyển đổi vật chất. Porter giới thiệu về ý tưởng theo đó tính cạnh tranh của một công ty không chỉ liên quan đến quy trình sản xuất.
Tính cạnh tranh của doanh nghiệp có thể phân tích bằng cách xem xét chuỗi giá trị bao gồm thiết kể sản phẩm, mua vật tư đầu vào, hậu cần, hậu cần bên ngoài, tiếp thị bán hàng và các dịch vụ hậu mãi và dịch vụ hỗ trợ như lập kế hoạch chiến lược, quản lý nguồn nhân lực, hoạt động nghiên cứu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Trong mô hình của Michael E.Porter “Chuỗi giá trị" được chia thành hai mảng chính trong kinh doanh, đó là các hoạt động sơ cấp và các hoạt động hỗ trợ. Về cơ bản, chuỗi giá trị tổng quát có chín loại hoạt động tạo ra giá trị trong toàn chuỗi được thể hiện như sau: Các hoạt động hỗ trợ Cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp Quản trị nguồn nhân lực Phát triển công nghệ Lợi nhuận Thu mua Logistics Vận hành Logistics Marketing Dịch vụ đầu vào SXKD đầu ra và bán hàng Các hoạt động sơ cấp Hình 1. Sơ đồ chuỗi giá trị tổng quát Do vậy, trong khung phân tích của Porter, khái niệm chuỗi giá trị chỉ áp dụng trong kinh doanh.
Kết quả là phân tích chuỗi giá trị chủ yếu nhằm hỗ trợ các quyết định quản lý và chiến lược điều hành. Chuỗi giá trị của Chuỗi giá trị của Chuỗi giá trị của nhà cung cấp công ty người mua Hình 1. Sơ đồ hệ thống giá trị của Porter (1985) 1. Quan điểm của GTZ Eschborn Trong cuốn “Cẩm nang Value Links - Phương pháp luận để thúc đẩy chuỗi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 giá trị’ của GTZ Eschborn, 2007 cho rằng “một chuỗi giá trị" là: - Một loạt các hoạt động kinh doanh (hay chức năng) có quan hệ với nhau, từ việc cung cấp các đầu vào cụ thể cho một sản phẩm nào đó, đến sơ chế, chuyển đổi, marketing, đến việc cuối cùng là bán sản phẩm đó cho người tiêu dùng (đây là quan điểm theo chức năng đối với chuỗi giá trị).
- Một loạt các doanh nghiệp (nhà vận hành) thực hiện các chức năng này, có nghĩa là nhà sản xuất, nhà chế biến, nhà buôn bán và nhà phân phối một sản phẩm cụ thể nào đó. Các doanh nghiệp kết nối với nhau bằng một loạt các giao dịch kinh doanh trong đó sản phẩm được chuyển từ tay nhà sản xuất sơ chế đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Theo thứ tự các chức năng và các nhà vận hành, chuỗi giá trị sẽ bao gồm một loạt các đường dẫn trong chuỗi (hay còn gọi là khâu). Người vận hành chuỗi là các doanh nghiệp thực hiện những chức năng cơ bản của chuỗi giá trị.
Những người vận hành điển hình là nông dân, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các công ty công nghiệp, các nhà xuất khẩu, các nhà bán buôn và các nhà bán lẻ. Họ có một điểm chung là tại một khâu nào đó trong chuỗi giá trị, họ sẽ trở thành người chủ sở hữu của sản phẩm (nguyên liệu thô, bán thành phẩm hay thành phẩm). Do đó, nhà vận hành chuỗi và nhà cung cấp dịch vụ vận hành là hai khái niệm khác nhau. Nhà cung cấp dịch vụ vận hành là nhà thầu phụ được các nhà vận hành thuê lại.
Tuy nhiên trong một chuỗi giá trị dịch vụ, những người vận hành chuỗi lại bao gồm cả doanh nghiệp cung cấp sản phẩm dịch vụ cho người tiêu dùng cuối cùng (dù đó là một khách hàng cá nhân hay là một công ty), cũng như các nhà cung cấp chuyên biệt khác chuyên cung cấp đầu vào và các dịch vụ (thứ cấp) ở những khâu đầu của chuỗi. Như vậy, theo quan điểm của GTZ, tác giả tóm tắt chuỗi giá trị theo hai hướng sau đây: + Hướng thứ nhất: dựa theo chức năng đối với chuỗi giá trị: Yếu tố Sản xuất Chuyển đổi Trao đổi Bán đầu vào sản phẩm sản phẩm thương mại hàng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Cung cấp: Trồng Phân loại Vận chuyển Tiêu dùng - Thiết bị Thu hoạch Chế biến Phân phối - Đầu vào Sấy khô Đóng gói Bán hàng Hình 1. Sơ đồ chuỗi giá trị phân chia theo chức năng + Hướng thứ hai: dựa theo nhà vận hành chuỗi giá trị: Nhà cung Nhà sản Nhà chế Nhà bán Người cấp xuất biến buôn bán lẻ Cung cấp Khâu Khâu Khâu Người đầu vào sản xuất chế biến bán buôn bán lẻ Hình 1. Sơ đồ chuỗi giá trị phân chia theo nhà vận hành 1.
Chuỗi giá trị Theo nghĩa hẹp, một chuỗi gồm một loạt những hoạt động trong một công ty để sản xuất ra một sản phẩm nhất định. Các hoạt động này có thể bao gồm: Giai đoạn xây dựng khái niệm và thiết kế, quá trình mua đầu vào, sản xuất, tiếp thị và phân phối, thực hiện các dịch vụ hậu mãi v. Tất cả các hoạt động này tạo thành một “chuỗi” kết nối người sản xuất với người tiêu dùng. Mặt khác, mỗi hoạt động lại bổ sung “giá trị” cho thành phẩm cuối cùng.
Chẳng hạn như khả năng cung cấp dịch vụ hỗ trợ hậu mãi và sửa chữa cho một công ty điện thoại di động làm tăng giá trị chung của sản phẩm. Nói cách khác, khách hàng có thể sẵn sàng trả cao hơn cho một điện thoại di động có dịch vụ hậu mãi tốt. Cũng tương tự như vậy đối với một thiết kế có tính sáng tạo hoặc một quy trình sản xuất được kiểm tra chặt chẽ. Đối với các doanh nghiệp nông nghiệp, một hệ thống kho phù hợp cho các nguyên liệu tươi sống (như hoa quả) có ảnh hưởng tốt đến chất lượng của thành phẩm và vì vậy LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 làm tăng giá trị sản phẩm.
Chuỗi giá trị theo “nghĩa rộng” là một phức hợp các hoạt động do nhiều người tham gia khác nhau thực hiện (người sản xuất sơ cấp, người chế biến, thương nhân, người cung cấp dịch vụ v.) để biến một nguyên liệu thô thành một sản phẩm bán lẻ. Chuỗi giá trị “rộng” bắt đầu từ hệ thống sản xuất nguyên liệu thô và chuyển dịch theo các mối liên kết với các doanh nghiệp khác trong kinh doanh, lắp ráp, chế biến, vv.