CHƯƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận về nâng cao thu nhập hộ nông dân nghèo 1. Nâng cao thu nhập hộ nông dân nghèo 1.
Khái niệm hộ nông dân Theo tác giả Frank Ellis (1998) thì “hộ nông dân là các hộ, thu nhập các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình độ hoàn chỉnh không cao”. Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân. Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (1993) cho rằng: “Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn”. Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp nông thôn”.
Còn theo nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc, trong phân tích điều tra nông thôn năm 2001 cho rằng: “Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thủy nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật,…) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp”. Từ những khái niệm trên về hộ nông dân của các tác giả có thể hiểu như sau: - Hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp, nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu bằng nghề nông. Ngoài hoạt động nông nghiệp, hộ nông dân còn tham gia các hoạt động phi nông nghiệp (như tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ,…) ở các mức độ khác nhau. - Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng.
Như vậy hộ nông dân không thể là một đơn vị kinh tế độc lập tuyệt đối và toàn năng, mà còn phải phụ thuộc vào các hệ thống kinh tế lớn hơn của nền kinh tế quốc dân. Những đặc trưng cơ bản của kinh tế hộ nông dân Việt nam Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế phổ biến của nông thôn vùng núi Việt Nam với hướng sản xuất chủ yếu là nông lâm nghiệp. Kinh tế hộ nông dân có lịch sử ra đời và phát triển lâu dài, có nhiều biến đổi trong tổ chức và quản lý, có nhiều hình thức đa dạng, nhưng chủ yếu được tổ chức ở quy mô gia đình. Hình thức tổ chức kinh tế này có những đặc trưng sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 - Kinh tế hộ nông dân miền núi phát triển theo hướng tổng hợp nhiều ngành, mức độ chuyên môn hoá cao, nông lâm kết hợp tạo thành hệ sinh thái bền vững.
Do sản xuất nông lâm nghiệp chịu rủi ro nhiều, để chống lại rủi ro đó, phòng những thời gian mất mùa, thiên tai hộ nông, lâm nghiệp phải phát triển theo hướng tổng hợp nhiều ngành như trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp. Trong từng ngành, hộ tiến hành trồng nhiều loại cây trồng, nuôi nhiều con gia súc khác nhau với mục đích tự sản tự tiêu, song một mặt phòng khi giáp hạt, rải thời vụ, thời tiết khó khăn gây mất mùa loại này thì còn có loại khác thay thế. Trong hệ thống nông nghiệp của hộ ngoài ngành trồng trọt và chăn nuôi gia súc ở miền núi hộ còn có tiềm năng đất rừng được gắn bó với nhau tạo thành hệ sinh thái bền vững. - Hộ nông dân là một đơn vị độc lập tự chủ nhưng đồng thời là một đơn vị xã hội với những đặc trưng riêng của nó.
+Về quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất: Ruộng đất là tư liệu sản xuất đặc biệt quý giá của hộ nông lâm nghiệp. Hộ nông dân được sử dụng lâu dài ruộng đất và chỉ như vậy hộ mới phát huy được quyền tự chủ trong sản xuất nông, lâm nghiệp, cùng với các quyền cho thuê sử dụng. Do có nhiều tư liệu vừa phục vụ sản xuất vừa phục vụ đời sống nên hộ không thể tiến hành tính khấu hao một cách rõ ràng như các doanh nghiệp sản xuất khác. +Quan hệ quản lý: Do làm chủ về tư liệu sản xuất nên hộ hoàn toàn có khả năng làm chủ về quản lý, quyền này thuộc về thế hệ bố mẹ trong gia đình.
+Quan hệ phân phối: Do làm chủ về tư liệu sản xuất nên hộ hoàn toàn có khả năng làm chủ về quản lý, quyền này thuộc về thế hệ bố mẹ trong gia đình. - Hộ nông dân không những là một đơn vị kinh tế mà còn là một đơn vị xã hội: Tính chất này là đặc trưng trong kinh tế hộ, bố mẹ có trách nhiệm với con cái đến lúc con cái trưởng thành, con cái có trách nhiệm với bố mẹ đến lúc tuổi già, đau ốm, quá cố. Quan hệ hàng xóm láng giềng, làng bản thông qua các thể chế, già làng, trưởng bản. Có thể nói hộ nông, lâm nghiệp bị chi phối rất lớn bởi quan hệ này.
Phát triển kinh tế hộ nông dân miền núi theo hình thái nông, lâm nghiệp phù hợp với yêu cầu phòng hộ, bảo vệ môi trường từng vùng sinh thái. Bởi vậy việc phát triển kinh tế hộ theo hình thái nông lâm nghiệp là yêu cầu khách quan và tất yếu trong việc bảo vệ môi trường sinh thái của vùng và của cả nước. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các phương pháp xác định chuẩn nghèo Bảng 1.
Quy định về chuẩn nghèo đói theo tiêu chuẩn quốc gia Mức thu nhập Chuẩn nghèo đói qua các giai đoạn Phân loại người nghèo đói BQ/người/tháng Đói (KV nông thôn) Dưới 8 kg 1993-1995 Đói (KV thành thị) Dưới 13 kg (Mức thu nhập quy ra gạo) Nghèo (KV nông thôn) Dưới 15 kg Nghèo (KV thành thị) Dưới 20 kg Đói Dưới 13 kg (Tính cho mọi khu vực) (45.000 đồng) Nghèo Dưới 15 kg (KV nông thôn miền 1996-2000 (55.000 đồng) núi, hải đảo) (Mức thu nhập quy ra gạo tương đương với số tiền) Nghèo (KV nông thôn, đồng Dưới 20 kg bằng trung du) (70.000 đồng) Dưới 25 kg Nghèo (KV thành thị) (90.000 đồng) Nghèo (KV nông thôn miền Dưới 80.000 đồng núi, hải đảo) 2001-2005 (Mức thu nhập tính bằng tiền) Nghèo (KV nông thôn đồng Dưới 100. 000 đồng bằng trung du) Nghèo (KV thành thị) Dưới 150.000 đồng Nghèo (KV nông thôn) Dưới 200.000 đồng Mức thu nhập Chuẩn nghèo đói qua các giai đoạn Phân loại người nghèo đói BQ/người/tháng Nghèo (KV nông thôn) Dưới 400.000 đồng Nghèo (KV thành thị) Dưới 500.000 đồng - Hộ cận nghèo (KV Nông thôn) 520.000 đồng - Hộ cận nghèo (KV thành thị) 650.000 đồng/người/tháng Nghèo ( KV thành thị) 900.000 đồng/người/tháng 2016 - 2020 (Mức thu nhập được tính bằng tiền) 1.000 Hộ cận nghèo (KV Nông thôn) đồng/người/tháng 1.000 Hộ cận nghèo (KV thành thị) đồng/người/tháng (Nguồn: Bộ LĐTBXH) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Xác định chuẩn nghèo của Việt Nam: Trong những năm qua nước ta tồn tại song song một số phương pháp xác định chuẩn nghèo phục vụ mục đính khác nhau. Đó là cách xác định chuẩn nghèo của Chính phủ do Bộ LĐTBXH hội công bố; chuẩn nghèo của Tổng cục thống kê và Ngân hàng thế giới đưa ra để đánh giá nghèo đói trên góc độ vĩ mô. Phương pháp xác định chuẩn nghèo đói theo tiêu chuẩn quốc gia: Bộ LĐTBXH là cơ quan thường trực của chương trình XĐGN đã tiến hành rà soát chuẩn nghèo qua các thời kỳ.
Lúc đầu nghèo được xác định dựa vào nhu cầu chi tiêu, sau đó chuyển sang chỉ tiêu thu nhập, kết quả là đã 6 lần công bố chuẩn nghèo đói cho từng giai đoạn khác nhau. Hộ nông dân nghèo * Khái niệm Nghèo là tình trạng của một bộ phận dân cư có điều kiện thoả mãn một phần nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện. - Nghèo tuyệt đối: là tình trạng của một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn các nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống. Nhu cầu tối thiểu là những đảm bảo ở mức độ tối thiểu những nhu cầu thiết yếu về ăn, ở, mặc, nhà ở và nhu cầu sinh hoạt hàng ngày như văn hoá, y tế, giáo dục, đi lại giao tiếp.
- Nghèo tương đối: là tình trạng của một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn các nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống. Nhu cầu tối thiểu là những đảm bảo ở mức độ tối thiểu những nhu cầu thiết yếu về ăn, ở, mặc, nhà ở và nhu cầu sinh hoạt hàng ngày như văn hoá, y tế, giáo dục, đi lại giao tiếp. Như vậy, hộ nông dân nghèo là những hộ nông dân thiếu vốn sản xuất thường rơi vào vòng luẩn quẩn, sản xuất yếu kém, làm không đủ ăn, phải đi làm thuê, đi vay để đảm bảo cuộc sống tối thiểu hàng ngày[5]. Theo quyết định 59/2015/QĐ-TTg ngày 19 tháng 11 năm 2015 thì hộ nghèo ở khu vực nông thôn có thu nhập bình quân là 700.000 đồng/người/tháng trở xuống và từ 900.000 đồng/người/tháng trở xuống đối với khu vực thành thị [6].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Đặc điểm của hộ nông dân nghèo - Thứ nhất, người nghèo thường có trình độ học vấn thấp hơn đại bộ phận dân cư khác: (các số liệu thống kê cho thấy rằng khoảng 70% hộ nghèo có trình độ phổ thông cơ sở hoặc thấp hơn), khả năng tiếp cận đến thông tin và kỹ năng chuyên môn bị hạn chế, thêm nữa tiếng nói ít được coi trọng, họ ít có địa vị trong xã hội. Những điều này là bước cản để họ tìm kiếm công việc tốt hơn trong các ngành trả lương cao. Vì vậy họ thường có thu nhập thấp hoặc thậm chí không có thu nhập mà chỉ phụ thuộc vào các nguồn trợ cấp, thu nhập không ổn định. - Thứ hai, phần lớn thu nhập của người nghèo chỉ đáp ứng được các nhu cầu thiết yếu nhất cho cuộc sống.