Cuộc Đấu Tranh Của Quân Và Dân Việt Nam Đòi Mĩ Thi Hành Hiệp Định Paris (1973-1975)

Luận văn thạc sĩ phân tích cuộc đấu tranh của quân và dân Việt Nam yêu cầu Mỹ và chính quyền Sài Gòn thực hiện Hiệp định Paris 1973-1975.

Chuyên ngành

Lịch Sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2019

117
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Hiệp định Paris 1973 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam

1.2. Hoàn cảnh đi đến đàm phán tại Paris

1.3. Diễn biến Hội nghị Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (1968 – 1973)

1.4. Nội dung cơ bản của Hiệp định Paris 1973

1.5. Ý nghĩa của Hiệp định Paris 1973

1.6. Sự vi phạm Hiệp định Paris của Mĩ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa (1973 – 1975)

1.7. Sự thay đổi tình hình ở Việt Nam sau khi Hiệp định Paris được kí kết

1.8. Âm mưu, kế hoạch vi phạm Hiệp định Paris của Mĩ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa

1.9. Tiểu kết chương 1

2. CUỘC ĐẤU TRANH TRÊN MẶT TRẬN CHÍNH TRỊ - NGOẠI GIAO ĐÒI MĨ VÀ CHÍNH QUYỀN SÀI GÒN THI HÀNH HIỆP ĐỊNH PARIS (1973 – 1975)

2.1. Chủ trương của Đảng, Trung ương Cục miền Nam Việt Nam, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam

2.1.1. Chủ trương của Đảng

2.1.2. Chủ trương của Trung ương Cục miền Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam

2.2. Hoạt động vi phạm Hiệp định Paris của Mĩ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa về chính trị - ngoại giao

2.3. Cuộc đấu tranh đòi Mĩ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa thi hành Hiệp định Paris trên mặt trận chính trị - ngoại giao

2.4. Đấu tranh với Mĩ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa trên trường quốc tế

2.5. Đấu tranh với Mĩ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa qua Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát Hiệp định Paris

2.6. Đấu tranh đòi thành lập chính phủ liên hiệp ở miền Nam Việt Nam

2.7. Tiểu kết chương 2

3. CUỘC ĐẤU TRANH TRÊN MẶT TRẬN QUÂN SỰ, TIẾN TỚI GIẢI PHÓNG HOÀN TOÀN MIỀN NAM (1973 – 1975)

3.1. Hoạt động vi phạm Hiệp định Paris của Mĩ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa về quân sự

3.2. Đấu tranh đòi trao trả tù binh, chống kế hoạch “tràn ngập lãnh thổ” của Mĩ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa

3.3. Đặc điểm và bài học kinh nghiệm của quá trình đấu tranh đòi Mĩ và chính quyền Sài Gòn thi hành Hiệp định Paris

3.4. Tiểu kết chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Cuộc Đấu Tranh Đòi Thi Hành Hiệp Định Paris

Cuộc đấu tranh của quân và dân Việt Nam đòi thi hành Hiệp định Paris (1973-1975) là một giai đoạn quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Hiệp định Paris được ký kết vào ngày 27 tháng 1 năm 1973, nhằm chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam. Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng hòa bình không được thực thi đúng như cam kết. Cuộc đấu tranh này không chỉ là sự phản kháng đối với sự vi phạm của Mĩ và chính quyền Sài Gòn mà còn thể hiện tinh thần kiên cường của nhân dân Việt Nam trong việc bảo vệ độc lập và thống nhất đất nước.

1.1. Hiệp Định Paris Nội Dung và Ý Nghĩa

Hiệp định Paris không chỉ là một văn bản pháp lý mà còn là biểu tượng của khát vọng hòa bình của nhân dân Việt Nam. Nội dung chính của hiệp định bao gồm việc ngừng bắn, rút quân đội nước ngoài và thành lập chính phủ liên hiệp. Tuy nhiên, sự vi phạm của Mĩ và chính quyền Sài Gòn đã khiến cho hiệp định này trở thành một thách thức lớn.

1.2. Bối Cảnh Lịch Sử Trước Khi Ký Hiệp Định

Trước khi ký kết Hiệp định Paris, Việt Nam đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh khốc liệt. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 đã tạo ra áp lực lớn đối với Mĩ, buộc họ phải tìm kiếm giải pháp ngoại giao. Bối cảnh này đã dẫn đến việc tổ chức các cuộc đàm phán tại Paris.

II. Những Thách Thức Trong Việc Thi Hành Hiệp Định Paris

Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, tình hình chính trị tại Việt Nam trở nên phức tạp hơn bao giờ hết. Chính quyền Sài Gòn và Mĩ đã có nhiều hành động vi phạm hiệp định, dẫn đến sự bất ổn định trong khu vực. Cuộc đấu tranh của quân và dân Việt Nam không chỉ diễn ra trên chiến trường mà còn trên mặt trận chính trị và ngoại giao.

2.1. Vi Phạm Hiệp Định Bởi Mĩ và Chính Quyền Sài Gòn

Mĩ và chính quyền Sài Gòn đã thực hiện nhiều hành động vi phạm hiệp định, bao gồm việc tiếp tục quân sự hóa miền Nam và không thực hiện việc rút quân. Những hành động này đã làm gia tăng căng thẳng và dẫn đến sự phản kháng mạnh mẽ từ phía quân và dân Việt Nam.

2.2. Tình Hình Chính Trị Sau Hiệp Định Paris

Sau khi ký kết hiệp định, tình hình chính trị tại miền Nam Việt Nam trở nên bất ổn. Chính quyền Sài Gòn không chỉ không thực hiện các cam kết mà còn gia tăng đàn áp các phong trào yêu nước. Điều này đã tạo ra một môi trường đấu tranh quyết liệt hơn cho quân và dân Việt Nam.

III. Phương Pháp Đấu Tranh Đòi Thi Hành Hiệp Định Paris

Để đòi hỏi việc thi hành Hiệp định Paris, quân và dân Việt Nam đã áp dụng nhiều phương pháp đấu tranh khác nhau. Từ việc tổ chức các cuộc biểu tình, đến việc sử dụng các kênh ngoại giao để gây áp lực lên Mĩ và chính quyền Sài Gòn.

3.1. Đấu Tranh Chính Trị và Ngoại Giao

Quân và dân Việt Nam đã sử dụng các kênh ngoại giao để kêu gọi sự ủng hộ từ cộng đồng quốc tế. Các cuộc đấu tranh chính trị diễn ra mạnh mẽ, nhằm tạo ra áp lực lên Mĩ và chính quyền Sài Gòn để thực hiện các cam kết trong hiệp định.

3.2. Hoạt Động Quân Sự Để Đòi Hòa Bình

Bên cạnh các hoạt động chính trị, quân đội cũng đã tiến hành nhiều hoạt động quân sự nhằm bảo vệ quyền lợi của nhân dân. Những chiến dịch quân sự này không chỉ nhằm mục đích giải phóng miền Nam mà còn để khẳng định quyết tâm của quân và dân Việt Nam trong việc thực hiện hiệp định.

IV. Kết Quả Cuộc Đấu Tranh Đòi Thi Hành Hiệp Định Paris

Cuộc đấu tranh của quân và dân Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần vào việc thống nhất đất nước. Những nỗ lực không ngừng nghỉ đã dẫn đến chiến thắng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam.

4.1. Chiến Thắng Trong Cuộc Tổng Tiến Công Xuân 1975

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 là một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Chiến thắng này không chỉ khẳng định sức mạnh của quân và dân Việt Nam mà còn là minh chứng cho sự chính nghĩa trong cuộc kháng chiến chống Mĩ.

4.2. Ý Nghĩa Lịch Sử Của Cuộc Đấu Tranh

Cuộc đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Paris đã để lại nhiều bài học quý giá cho các thế hệ sau. Nó không chỉ thể hiện tinh thần kiên cường của nhân dân Việt Nam mà còn khẳng định rằng hòa bình chỉ có thể đạt được khi có sự tôn trọng và thực hiện các cam kết.

V. Kết Luận Về Cuộc Đấu Tranh Đòi Thi Hành Hiệp Định Paris

Cuộc đấu tranh của quân và dân Việt Nam đòi thi hành Hiệp định Paris (1973-1975) là một phần không thể thiếu trong lịch sử dân tộc. Những nỗ lực không ngừng nghỉ đã dẫn đến chiến thắng cuối cùng, thống nhất đất nước. Điều này khẳng định rằng, dù gặp nhiều khó khăn, nhưng với tinh thần đoàn kết và quyết tâm, nhân dân Việt Nam đã vượt qua mọi thử thách.

5.1. Tương Lai Của Hòa Bình Tại Việt Nam

Tương lai của hòa bình tại Việt Nam phụ thuộc vào việc thực hiện các cam kết và duy trì sự đoàn kết trong nhân dân. Những bài học từ cuộc đấu tranh này sẽ là nền tảng cho sự phát triển bền vững của đất nước.

5.2. Bài Học Từ Cuộc Đấu Tranh

Cuộc đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Paris đã để lại nhiều bài học quý giá về sự kiên trì, đoàn kết và quyết tâm. Những bài học này sẽ tiếp tục được phát huy trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hay cuộc đấu tranh của quân và dân việt nam đòi mỹ chính quyên sài gòn thi hành hiệp định paris 1973 1975

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu bằng cuộc tập kích chiến lược của quân chủ lực vào hầu hết các đô thị miền Nam trong đêm 30 rạng sáng 31/1/1968 (đêm giao thừa rạng sáng mồng Một Tết Mậu Thân). Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trải qua ba đợt: từ 30/1 đến 25/2, tháng 5 và 6, tháng 8 và 9/1968. Tại Sài Gòn, Quân giải phóng tiến công các vị trí đầu não của địch như Tòa Đại sứ Mĩ, Dinh Độc Lập, Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn, Bộ Tư lệnh biệt khu Thủ đô, Tổng nha Cảnh sát, Đài phát thanh, sân bay Tân Sơn Nhất. Từ trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, có thêm nhiều lực lượng mới chống Mĩ, chống chính quyền Sài Gòn, mặt trận đoàn kết dân tộc chống Mĩ, cứu nước được mở rộng.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân đã đánh đòn bất ngờ, làm cho địch choáng váng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 Tại Mĩ, cuộc chiến ở Việt Nam đã thật sự biến thành cuộc chiến trong lòng nước Mĩ, nó trở thành mối quan tâm hàng đầu của các chính khách Mĩ. Khi Tổng thống L. Johnson tuyên bố cương quyết bảo vệ chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, 18 nghị sĩ thuộc Đảng Dân chủ Mĩ cũng họp báo đề nghị Tổng thống L.

Johnson đàm phán với Quân Giải phóng để cố gắng đi đến một giải pháp. Vị thế của nước Mĩ trên trường quốc tế cũng bị ảnh hưởng sâu sắc. Làn sóng phản đối chiến tranh, yêu cầu Mĩ phải sớm đi đến đàm phán để đem lại hòa bình ở Việt Nam ngày càng mạnh mẽ. Đặc biệt, đầu tháng 3/1968, Tổng thư ký Liên hiệp quốc U.Thant ra thông điệp cho rằng một cuộc ngưng oanh tạc miền Bắc Việt Nam vô điều kiện sẽ đưa đến một cuộc thương thuyết ngay.

Không còn giải pháp nào khác, chính quyền Johnson buộc phải chọn giải pháp đàm phán với Chính phủ Việt Nam DCCH. Johnson tuyên bố không ra tranh cử tổng thống nhiệm kì thứ hai, thông báo quyết định hạn chế hoạt động của Mĩ ở Việt Nam, ra lệnh ngừng ném bom bắn phá hạn chế miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra và chấp nhận đàm phán với Việt Nam DCCH. Tình hình thế giới trước ngày diễn ra cuộc hội đàm chính thức giữa ta và Mĩ hết sức phức tạp. Sự đối đầu giữa hai cực Liên Xô và Mĩ rất sâu sắc và toàn diện.

Sự đối đầu thể hiện ở cuộc chạy đua vũ trang, phát triển vũ khí hạt nhân, những cuộc xung đột khu vực, phong trào đấu tranh giành và giữ độc lập dân tộc chống lại chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân do Mĩ đứng đầu. Nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới lo ngại nguy cơ của một cuộc chiến tranh thế giới mới, lo ngại nguy cơ chiến tranh hạt nhân, lo ngại chiến tranh khu vực phát triển thành chiến tranh thế giới. Do vậy, dư luận rộng rãi trên thế giới một mặt ủng hộ mạnh mẽ cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống Mĩ xâm lược, mặt khác mong muốn Việt Nam ngồi vào bàn thương lượng để giải quyết chiến tranh Việt Nam bằng phương pháp hòa bình. Bên cạnh đó, trong hệ thống xã hội chủ nghĩa xuất hiện những mâu thuẫn, bất đồng.

Quan hệ Xô – Trung ngày càng xấu, dẫn đến cuộc xung đột quân sự đầu năm 1969 ở Uxuri. Liên Xô và Trung Quốc đã giành cho Việt Nam sự giúp đỡ rất to lớn nhưng căng thẳng trong quan hệ Xô – Trung dẫn đến việc hai nước này có những quan điểm trái ngược nhau về vấn đề Việt Nam. Liên Xô mong muốn chúng ta sớm ngồi vào LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16 bàn hội nghị để giải quyết vấn đề Việt Nam bằng thương lượng hòa bình. Còn Trung Quốc, cho đến cuối năm 1968, vẫn không tán thành việc ta thương lượng với Mĩ (Nguyễn Thành Lê, 2018).

Đứng trước tình hình phức tạp trên, Đảng và Nhà nước ta đã phải phát huy cao độ tinh thần độc lập, tự chủ để giữ quyết tâm chiến lược và sách lược của mình trong khi vẫn tranh thủ được sự ủng hộ, chi viện của Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN khác; tranh thủ được sự ủng hộ của nhân dân thế giới. Đảng ta chỉ rõ: “Chúng ta cần đẩy mạnh đấu tranh chính trị và ngoại giao, góp phần củng cố sự đoàn kết của phe XHCN, luôn luôn giữ thế chủ động, nắm vững và nêu cao ngọn cờ độc lập và hòa bình” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2002). Diễn biến Hội nghị Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (1968 – 1973) Ngày 3/4/1968, Chính phủ Việt Nam DCCH ra tuyên bố “sẵn sàng cử đại diện tiếp xúc với đại diện của Chính phủ Mĩ nhằm xác định với phía Hoa Kì việc Mĩ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và các hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam DCCH để có thể bắt đầu cuộc nói chuyện” (Vũ Dương Ninh, 2015). Cuộc thảo luận về địa điểm đàm phán kéo dài một tháng.

Có 18 địa điểm là các thành phố, thủ đô của các nước Á, Âu đã được đưa ra, cuối cùng, hai bên thỏa thuận chọn Paris. Chính phủ Việt Nam DCCH cử Bộ trưởng Xuân Thủy, Bí thư BCH TW Đảng làm Trưởng đoàn đàm phán (về sau, Việt Nam cử đồng chí Lê Đức Thọ, Ủy viên Bộ Chính trị làm Cố vấn đặc biệt cho đoàn đàm phán. Chính phủ Mĩ cử Thứ trưởng Ngoại giao Averell Harriman làm Trưởng đoàn đàm phán (về sau, Mĩ cử Tiến sĩ Henry Kissinger làm Cố vấn an ninh quốc gia). Cuộc đàm phán chính thức giữa hai đoàn Việt Nam DCCH và Mĩ được tiến hành từ ngày 13/5/1968 đến ngày 31/10/1968, kéo dài gần sáu tháng, qua 28 phiên họp chính thức, 21 cuộc gặp riêng, bí mật.

Bộ Chính trị nhận định: “Nếu Mĩ muốn giải quyết vấn đề Việt Nam theo lập trường tối thiểu của ta trước khi ta giành được thắng lợi quyết định thì ta không để lỡ thời cơ” (Lưu Văn Lợi và Nguyễn Anh Vũ, 1996). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 17 Ngay trong các phiên họp đầu tiên của vòng đàm phán hai bên về Việt Nam, Bộ trưởng Ngoại giao, Trưởng phái đoàn Việt Nam DCCH – Xuân Thủy tiếp tục khẳng định lập trường nhất quán để tiến tới giải pháp hòa bình cho Việt Nam: “Trước tiên Chính phủ Mĩ phải chấm dứt vĩnh viễn và không điều kiện việc ném bom bắn phá trên toàn lãnh thổ Việt Nam DCCH (nhất là từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh). Chính phủ Mĩ phải chấm dứt ngay mọi hành động chiến tranh khác…Về phần Việt Nam DCCH với thiện chí đã cử đại diện tới Ba Lê nói chuyện chính thức và nghiêm chỉnh với đại diện của Mĩ” (TTLTII, Hồ sơ 834). Đoàn Việt Nam DCCH tập trung lên án Mĩ gây chiến tranh xâm lược ở Việt Nam, phá hoại Hiệp định Geneve 1954 về Đông Dương; đòi Mĩ phải rút quân, chấm dứt không điều kiện ném bom Việt Nam DCCH.

Lập trường để giải quyết vấn đề Việt Nam là bốn điểm của Chính phủ Việt Nam DCCH và năm điểm của MTDTGPMNVN. Ngược lại, ngay từ những phiên họp đầu tiên, phái đoàn Mĩ né tránh giải quyết vấn đề chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc mà liên tục đưa ra và thay đổi các luận điểm, đề nghị giải quyết các vấn đề chính trị của miền Nam Việt Nam với âm mưu đưa cuộc chiến tranh Việt Nam về thời điểm năm 1954. Mĩ cho rằng Bắc Việt Nam xâm lược miền Nam; Mĩ đòi có đi có lại, hứa sẽ chấm dứt ném bom hoàn toàn miền Bắc với điều kiện Việt Nam DCCH không tăng cường chiến sự ở miền Nam; Mĩ và Việt Nam DCCH sẽ cùng rút quân khỏi miền Nam. Tại phiên họp thứ 17 (14/8/1968), Averell Harriman đã ngang ngược nhắc lại những đề nghị của Mĩ gồm các điểm: “Hoa Kì sẽ đình chỉ hoàn toàn oanh tạc Bắc Việt nếu Bắc Việt cũng có những hành động tự chế tương tự.

Hoa Kì đề nghị tái lập khu phi quân sự. Hoa Kì tuyên bố sẵn sàng rút quân đội ra khỏi Nam Việt Nam nếu Bắc Việt cũng rút quân về Bắc và ngưng xâm nhập miền Nam…” (TTLTII, Hồ sơ 878). Mĩ cố tình đánh đồng giữa kẻ đi xâm lược và người chống xâm lược. Đó là thủ đoạn để Mĩ lừa bịp dư luận nhưng đó cũng chính là điểm yế của Mĩ.

Phái đoàn Việt Nam DCCH phát huy lợi thế chính nghĩa của mình, tích cực đấu tranh trước dư luận. Tại phiên họp thứ 28 (30/10/1968), Bộ trưởng Xuân Thủy tiếp tục vạch rõ âm mưu của Mĩ: “Những lời nói hòa bình của Mĩ chỉ nhằm che đậy những hành động của Mĩ tiếp tục cho máy bay, tàu chiến bắn phá ác liệt, triệt hạ từng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 18 vùng ở miền Bắc Việt Nam…Mĩ chưa muốn giải quyết hòa bình vấn đề Việt Nam. Trái lại, vẫn muốn theo đuổi chiến tranh xâm lược, theo đuổi chính sách thực dân mới của chúng ở miền Nam Việt Nam. Những lời lẽ hòa bình giả dối của Mĩ hiện nay chỉ nhằm xoa dịu làn sóng chống chiến tranh ngày càng dâng cao ở ngay trong nước Mĩ, lừa bịp cử tri Mĩ trước ngày bầu cử tổng thống, đồng thời cũng để xoa dịu làm sóng phẫn nộ ngày càng mạnh mẽ của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới” (TTLTII, Hồ sơ 856).

Sau cao điểm 2 đợt 3 cuộc Tổng tiến công nổi dậy Mậu Thân năm 1968, tại Paris, phái đoàn Hoa Kì và phái đoàn Việt Nam DCCH xúc tiến các cuộc thương lượng bí mật. Mở đầu là cuộc gặp riêng cấp cao giữa Bộ trưởng Xuân Thủy, Cố vấn Lê Đức Thọ với Trưởng phái đoàn Hoa Kì Averell Harriman và ông Cypruc Vance (ngày 8/9/1968). Vấn đề mấu chốt của cuộc đàm phán hai bên về Việt Nam trên bàn Hội nghị Paris đã dần được giải quyết. Mĩ và Việt Nam DCCH đi đến những thỏa thuận như sau: Mĩ chấp nhận chấm dứt hoàn toàn và không điều kiện việc ném bom, các hành động chiến tranh khác chống Việt Nam DCCH kể từ ngày 1/11/1968; Mĩ ngồi vào bàn đàm phán trong Hội nghị bốn bên có đại diện của MTDTGPMNVN.

Sau gần sáu tháng đấu tranh kiên quyết của Việt Nam trên bàn đàn phán lẫn trên chiến trường, đế quốc Mĩ từ chỗ phải tuyên bố ném bom hạn chế, nay phải tuyên bố chấm dứt hoàn toàn việc ném bom miền Bắc không điều kiện và ngồi vào bàn đàm phán trong Hội nghị bốn bên có đại diện của MTDTGPMNVN. Đây là một thất bại của Mĩ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, đánh dấu quá trình Mĩ phải xuống thang chiến tranh. Ngược lại với Mĩ, đây là thắng lợi quan trọng của quân dân ta ở hai miền Nam Bắc Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ